TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST Ngày 23 – 01 – 2025 V/v ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Minh Hoàng.
- Ông Trịnh Tôn Nám.
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 316/2024/TLST - HNGĐ ngày 18/10/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Quách Văn U, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: ấp Hưng H, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ hiện tại: ấp Tân N, xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Phan Thị Chúc L, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: ấp Hưng H, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ hiện tại: ấp Tân N, xã Rạch C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân, anh Quách Văn U và chị Phan Thị Chúc L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu giữa vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng theo anh U trình bày đến khoảng năm 2023, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cải vã với nhau. Hiện anh và chị L đã sống ly thân từ khoảng một năm nay nên anh U yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
Về con chung, anh Quách Văn U khai anh và chị L chung sống với nhau có 02 người con chung là Quách Mỹ Huyền, sinh ngày 26/6/2008 và Quách Mỹ Quyên, sinh ngày 07/6/2018. Hiện các con đang chung sống với anh nên khi ly hôn, anh U yêu cầu được nuôi các con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, anh Quách Văn U khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Phan Thị Chúc L (bị đơn), tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng chị không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh Quách Văn U (nguyên đơn). Riêng anh U đã có lời khai và nộp đơn xin xét xử vắng mặt vào ngày 29/11/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai, đã tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và nộp đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc làm ăn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do bị đơn không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian sống ly thân được chấp nhận. Cũng chính từ mâu thuẫn nêu trên, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân với nhau khoảng một năm nay nên có căn cứ để nhận định tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn là có cơ sở, được chấp nhận.
[3] Về con chung là Quách Mỹ Huyền, sinh ngày 26/6/2008 và Quách Mỹ Quyên, sinh ngày 07/6/2018. Hiện các con đang chung sống với nguyên đơn nên khi ly hôn, nguyên đơn có yêu cầu được nuôi con và không đặt ra yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Do bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản ý kiến cho Tòa xem xét nên chưa đủ cơ sở để khẳng định việc giao con cho bị đơn nuôi dạy sẽ đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con. Hơn nữa, việc ly hôn giữa các đương sự đã phần nào xáo trộn đến cuộc sống bình thường, tâm lý của con trẻ trong khi các con đang chung sống với nguyên đơn đã ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với nguyên đơn. Vì vậy, cần hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng tâm lý, cuộc sống của các con nên tiếp tục giao các con cho nguyên đơn chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp lý.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng nguyên đơn không đặt ra yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con – Đây là ý chí tự nguyện, quyền tự định đoạt của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt xem xét về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 144, 147, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Quách Văn U về việc xin ly hôn chị Phan Thị Chúc L.
- Về con chung là Quách Mỹ Huyền, sinh ngày 26/6/2008 và Quách Mỹ Quyên, sinh ngày 07/6/2018. Hiện các con đang chung sống với anh Quách Văn U nên khi ly hôn, tiếp tục giao các con cho anh U chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu chị Phan Thị Chúc L cấp dưỡng nuôi con.
- Chị L có quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung, anh Quách Văn U khai không có, nên không đặt ra xem xét.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, anh Quách Văn U phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 18/10/2024, anh U đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003960 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lâm Hoài Ân |
Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Quách Văn U và chị Phan Thị Chúc L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu giữa vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng theo anh U trình bày đến khoảng năm 2023, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cải vã với nhau. Hiện anh và chị L đã sống ly thân từ khoảng một năm nay nên anh U yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
