|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:17/2024/HS-ST Ngày 11 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Bắc Hải
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hải H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/9/1983, sinh tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Nơi thường trú hiện nay: Bản Mạt, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1949; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988 và có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Xử phạt 8.000.000 đồng về tội: Tội đánh bạc (đã xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 29/6/2024 cho đến ngày 13/8/2024, hiện nay được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại cho đến nay “có mặt”.
- Dương Thị D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/10/1983, sinh tại huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nơi thường trú hiện nay: Thôn G, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Dương Quốc T (đã chết) và bà: Đặng Thị L, sinh năm 1945; Bị cáo có chồng là Nguyễn Đông Q1, sinh năm 1975 và có 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 29/6/2024 cho đến ngày 7/8/2024 (tổng cộng ngày tạm giữ, tạm giam là 40 ngày), hiện nay được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại cho đến nay, “có mặt”.
- Nguyễn Văn P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 23/01/1984 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện nay: Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Văn D1 (đã chết) và bà: Trần Thị L1, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Lê Thị L2, sinh năm 1984 và có 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 29/6/2024 cho đến ngày 7/8/2024 (tổng cộng ngày tạm giữ, tạm giam là 40 ngày), hiện nay được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại cho đến nay, “có mặt”.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S nhận được đơn của công dân (đơn nặc danh) tố giác Nguyễn Hải H, sinh năm 1983, trú tại Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thực hiện hoạt động đánh bạc với Dương Thị D, sinh năm 1983, trú tại Thôn G, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La và Nguyễn Văn P, sinh năm 1984, trú tại Tổ C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào nguồn tin tố giác tội phạm, hồi 18 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành mời Nguyễn Hải H, Dương Thị D và Nguyễn Văn P về trụ sở Công an tỉnh S để làm rõ nội dung tố giác. Kết quả làm việc các đối tượng đều thừa nhận có được đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với nhau thông qua tin nhắn trên điện thoại di động.
Đến ngày 29/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra Lệnh giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hải H, Dương Thị D và Nguyễn Văn P đồng thời tiến hành thu thập kết quả xổ số để điều tra, xác minh.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 3/2024, Nguyễn Hải H được một người nam giới tự giới thiệu tên K nhà ở thành phố S (Không nói thông tin, địa chỉ cụ thể) đến nhà đề nghị H bán số lô, số đề rồi chuyển cho K và thỏa thuận tiền mua số lô, số đề, K sẽ chiết khấu thấp hơn số tiền người chơi đặt mua của H, cụ thể: 01 điểm lô có giá 21.750 đồng; tiền số đề, ba càng bằng 73% số tiền người chơi đặt mua của H (thống nhất nếu mua số đề với số tiền 100.000 đồng thì H phải trả K 73.000 đồng); tiền số lô xiên bằng 61% số tiền người chơi đặt mua của H (thống nhất nếu mua số lô xiên với số tiền 100.000 đồng thì H phải trả K số tiền 61.000 đồng) H đồng ý, hai bên thỏa thuận khi nào kết quả thắng thua mà số tiền trên 20.000.000 đồng thì hai bên thanh toán với nhau trực tiếp bằng hình thức trả tiền mặt. Nhằm tránh lực lượng chức năng phát hiện, H đã đặt hàng mua số điện thoại 0974.429.xxx trên mạng Internet (không đăng ký thuê bao chính chủ) để mua bán số lô, số đề.
Dương Thị D và Nguyễn Văn P (quen Nguyễn Hải H từ trước) khi biết H hoạt động mua bán số lô, số đề nên D và P đã chủ động gặp, thỏa thuận với Nguyễn Hải H về việc mua bán số lô, số đề. Ngoài ra, có hai người đàn ông tên là T1 và T2 (không biết thông tin, địa chỉ cụ thể) khi biết H mua bán số lô, số đề nên cũng đến gặp, thỏa thuận về việc mua bán số lô, số đề. H đồng ý và thống nhất thực hiện việc mua bán số lô, số đề dưới hình thức gửi tin nhắn "SMS". Nguyễn Hải H với Dương Thị D, T1, T2 thỏa thuận, thống nhất tỷ lệ cá cược và giá bán số lô, số đề: 01 điểm lô có giá 21.800 đồng; tiền số đề, số đề ba càng bằng 75% số tiền đặt mua số đề, số đề ba càng (thống nhất nếu mua số đề với số tiền 100.000 đồng thì D, T1, T2 chỉ phải trả H 75.000 đồng); tiền số lô xiên bằng 60% số tiền đặt mua số lô xiên (thống nhất nếu mua số lô xiên với số tiền 100.000 đồng thì D, T1, T2 phải trả H số tiền 60.000 đồng). Nguyễn Hải H thỏa thuận với Nguyễn Văn P bán số lô với giá 23.000 đồng/01 điểm lô; đối với số đề, số đề 3 càng, lô xiên, H không phải chiết khấu tiền cho P.
Nguyễn Hải H có 02 chiếc điện thoại di động, 01 chiếc điện thoại Iphone 6S, lắp sim có số thuê bao 0982859928 sử dụng để liên lạc cá nhân; 01 chiếc điện thoại S có lắp sim số 0974429375, H sử dụng để nhận số lô, số đề.
Dương Thị D đã mua số điện thoại 0329.996.xxx (thuê bao không đăng ký chính chủ); P sử dụng số điện thoại 0973.159.xxx (thuê bao đăng ký chính chủ); T1 sử dụng số điện thoại 0397.627.xxx; T2 sử dụng số điện thoại 0326.918.xxx để nhắn tin mua bán số lô, số đề với H. Khi có các tin nhắn mua số lô, số đề nhắn đến thì H soạn tin nhắn có cấu trúc “ok” gửi cho người mua để xác nhận số lượng tin đã nhận mua bán số lô, số đề. Các số lô, số đề bán được hằng ngày, H sẽ tổng hợp lại và nhắn tin SMS từ số điện thoại 0974.429.xxx của H chuyển đến số điện thoại 0365.983.xxx cho K để hưởng tiền chênh lệch. Đồng thời H tự giữ lại một phần số lô, để cá cược với người mua. Sau khi có kết quả xổ số để xác định người mua số lô, số đề trúng hay không trúng đồng thời các đối tượng chốt tiền thắng thua và xóa các tin nhắn mua bán số lô, số đề trong ngày hôm đó.
Về hình thức cá cược: Các đối tượng sử dụng điện thoại di động để gửi tin nhắn nội dung số lô, số đề sau đó căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày để phân định thắng thua; tiền thắng thua thanh toán qua tài khoản ngân hàng hoặc tiền mặt, cụ thể: Hình thức cá cược số đề thì so sánh số đề với 2 số cuối của giải đặc biệt, nếu số đề trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì người mua thắng và được trả số tiền gấp 70 lần số tiền người chơi đã mua số đề đó. Với hình thức cá cược số đề 3 càng thì so sánh số đề 3 càng với 3 số cuối giải đặc biệt, nếu trùng thì thắng và được trả gấp 350 lần số tiền đã mua. Hình thức cá cược số lô xiên gồm xiên 2, xiên 3 và xiên 4 thì so sánh các số trong bộ lô xiên với 2 số cuối của tất cả các giải, nếu các số trong bộ lô xiên xuất hiện đủ thì người chơi thắng cụ thể với lô xiên 2 thắng thì người chơi được trả gấp 10 lần số tiền đã mua số xiên, với lô xiên 3 thì người chơi thắng sẽ được trả gấp 40 lần số tiền đã mua, với lô xiên 4 thì người chơi thắng được trả số tiền gấp 80 lần số tiền đã mua. Hình thức cá cược số lô thì so sánh số lô đã mua với 2 số cuối tất cả các giải, nếu trùng một trong các giải thì người chơi thắng và được người bán trả 80.000 đồng/1 điểm lô; nếu số lô đã mua mà trùng nhiều giải thì số tiền thắng cược là 80.000 đồng/1 điểm lô nhân với số lần số lô có trong giải ngày hôm đó.
1. Hành vi của các bị cáo cụ thể như sau:
1.1. Bị cáo Nguyễn Hải H:
- Ngày 26/6/2024, Nguyễn Hải H đã sử dụng số điện thoại 0974.429.xxx nhận tin nhắn từ số điện thoại 0973.159.xxx của Nguyễn Văn P nhắn đến để mua số lô: 58, 85, 07, 27, 60 mỗi số lô 10 điểm; 22, 82, 87, 14, 18, 38, 83, 88, 98, 89, 41, 80, 10, 15, 51, 42, 47, 74, 52, 31, 04, 40, 30, 70, 64, 66 mỗi số lô 5 điểm; Lô xiên 27, 07, 58 = 50.000 đồng; 60, 22, 85 = 50.000 đồng; 74, 88, 98 = 50.000 đồng; 38, 10, 07=50.000 đồng.
Tổng cộng P mua của H: 50 điểm + 130 điểm = 180 điểm lô x 23.000 đồng = 4.140.000 đồng, lô xiên 3 = 200.000 đồng. Tổng số tiền P mua số lô số đề là 4.140.000 đồng + 200.000 đồng = 4.340.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 26/6/2024, P đã trúng các số lô 27 = 10 điểm; 22, 83, 80 (trúng 2 nháy), 10 (trúng 2 nháy), 04, 66 mỗi số 05 điểm lô, tổng trúng 50 điểm lô x 80.000 đồng = 4.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với Nguyễn Văn P ngày 26/6/2024 là 4.340.000 đồng + 4.000.000 đồng = 8.340.000 đồng.
- Ngày 27/6/2024, Nguyễn Hải H đã sử dụng số điện thoại 0974.429.xxx để bán số lô, số đề cho Dương Thị D và Nguyễn Văn P, cụ thể như sau:
(1) Nhận 04 tin nhắn từ số điện thoại 0329.996.xxx của Dương Thị D nhắn đến để mua số lô, số đề. Sau khi nhận được các tin nhắn, H đã soạn tin nhắn xác nhận chấp nhận tất cả 04 tin, cụ thể:
Tin nhắn 1: Lô 89, 98 mỗi số lô 10 điểm; Tin nhắn 2: xiên 35, 07 = 1.000.000 đồng; Tin nhắn 3: Đề 78, 28, 22, 44 mỗi số đề 20.000 đồng; Tin nhắn 4: đề 03, 30, 08, 80 mỗi số đề 10.000 đồng; Lô A, 61, 23, 32, 49, 94, 59, 95, 02, 20, 71, 56, 65, 80, 08, 01, 10, 89, 98 mỗi số lô 5 điểm.
Tổng: 20 điểm + 95 điểm = 115 điểm lô; 1.000.000 đồng tiền số lô xiên; 120.000 đồng tiền đề. Do đó, tổng D mua của H 115 điểm lô x 21.800 đồng = 2.507.000 đồng; tiền số đề 120.000 đồng x 75% = 90.000 đồng; tiền số lô xiên 1.000.000 đồng x 65% = 650.000 đồng. Tổng cộng ngày 27/6/2024 D mua số lô, số đề của H là 2.507.000 đồng + 90.000 đồng + 650.000 đồng = 3.247.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 27/6/2024, D đã trúng thưởng những số lô: 89 = 10 điểm, 16, 23, 95 (trúng 2 nháy), 01, 89 mỗi số 5 điểm. Tổng Dung trúng thưởng 40 điểm lô x 80.000 đồng = 3.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với Dương Thị D ngày 27/6/2024 là 3.247.000 đồng + 3.200.000 đồng = 6.447.000 đồng (H chưa trả thưởng cho D.
(2) Nhận tin nhắn từ số điện thoại 0973.159.xxx của Nguyễn Văn P nhắn đến để mua số lô: 58, 52, 07, 01, 10 mỗi số lô 10 điểm; 25, 02, 26, 70, 55, 88, 87, 89, 85, 98, 06, 60, 47, 74, 64, 62, 14, 41 42 mỗi số lô 5 điểm. Xiên 07, 58, 98 = 50.000đ. Tổng: 50 điểm + 95 điểm = 145 điểm lô; xiên 3 = 50.000 đồng.
Do đó, tổng P mua 145 điểm lô x 23.000 đồng = 3.335.000 đồng, lô xiên 3 = 50.000 đồng. Tổng số tiền P mua số lô, số đề của H là 3.335.000 đồng + 50.000 đồng = 3.385.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 27/6/2024, P đã trúng các số lô 07, 01 mỗi số 10 điểm; 55, 89, 14, 41, 42 mỗi số 5 điểm; 26, 70 mỗi số 5 điểm trúng thưởng 2 lần, tổng thắng 60 điểm lô x 80.000 đồng = 4.800.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Văn P cá cược đánh bạc với Nguyễn Hải H ngày 27/6/2024 là 3.385.000 đồng + 4.800.000 đồng = 8.185.000 đồng.
Ngày 28/6/2024, Nguyễn Hải H đã sử dụng số điện thoại 0974.429.xxx để bán số lô, số đề cho 04 trường hợp:
(1) Nhận 07 tin nhắn từ số điện thoại 0329.996.xxx của Dương Thị D nhắn đến để mua số lô, số đề, sau khi nhận được các tin nhắn, H đã soạn tin nhắn xác nhận chấp nhận tất cả 7 tin, cụ thể:
Tin nhắn 1: mua các số lô 08, 59, 15, 19 mỗi số lô 10 điểm; các số đề 15, 19 mỗi số đề 40.000 đồng; số xiên ba 99, 65, 74 = 50.000 đồng. Tin nhắn 2: mua các số lô 65, 99, 00, 52, 59, 47, 74, 19, 91, 30, 61, 65 mỗi số lô 05 điểm; các số đề 47, 43, 09, 90, 81 mỗi số đề 20.000 đồng; số đề 18 = 40.000 đồng; các số đề 72, 24, 09, 08, 86, 68, 36, 69, 31, 08 mỗi số đề 10.000 đồng; các số đề 02, 90 mỗi số đề 20.000 đồng; số đề 23 = 30.000 đồng; số đề 47 = 20.000 đồng; số đề 45 = 10.000 đồng; số 3 càng 368, 386 mỗi số 10.000 đồng; các số cuối 1 (01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số đề 10.000 đồng; số đề kép (00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số đề 5.000 đồng; số đề 18, 64 mỗi số đề 5.000 đồng. Tin nhắn 3: Xiên hai 19, 91 = 1.000.000 đồng; Tin nhắn 4: Số đề đầu 0 (00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) và các số cuối 0 (00, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90) mỗi số đề 20.000 đồng; các số đề 03, 30, 08, 80, 12, 21, 39, 93 mỗi số đề 10.000 đồng; các số lô: 16, 61, 23, 32, 59, 95, 02, 20, 01, 10, 54, 45, 49, 94 mỗi số lô 5 điểm; Tin nhắn 5: Số đề 21 = 20.000 đồng; Các số số đề: 11, 10, 81 mỗi số đề 10.000 đồng; các số đề: 08, 30, 48, 72, 10, 49, 66, 41, 42, 26, 61, 76, 68, 80, 81, 91, 19, 01, 33, 60, 61, 66, 54, 85, 86, 55, 66, 12, 69, 70, 01, 30 mỗi số đề 5.000 đồng; số đề có số cuối 1 (01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số đề 5.000 đồng; các số xiên 57, 88, 41; 66, 11, 88; 81, 91, 64 mỗi xiên 10.000 đồng; Tin nhắn 6: Số đề 22, 02 mỗi số đề 5.000 đồng. Tin nhắn 7: Số đề có số đầu 7 (70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79) mỗi số đề 10.000 đồng. Theo thoả thuận về tỷ lệ mua bán số lô, số đề với H thì D đã mua 175 điểm lô x với giá 21.800 đồng = 3.815.000; 1.450.000 đồng tiền số đề, 3 càng x với tỷ lệ 75% = 1.087.500 đồng; 1.080.000 đồng tiền số lô xiên x tỷ lệ 65% = 702.000 đồng. Tổng mua 3.815.000 + 1.087.500 + 702.000 = 5.604.500 đồng. Như vậy tổng số tiền D mua số lô, số đề của H là 5.604.500 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, D trúng thưởng các số lô 47, 54, 91 mỗi số 5 điểm (15); 65 = 10 điểm; 59 = 20 điểm, tổng D trúng thưởng 45 điểm lô x 80.000 đồng = 3.600.000 đồng; trúng thưởng 15 điểm đề x 70 = 1.050.000 đồng; trúng 10 điểm ba càng x 350 = 3.500.000 đồng.Tổng số tiền trúng thưởng là 3.600.000 đồng + 1.050.000 đồng + 3.500.000 đồng = 8.150.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với Dương Thị D là 5.604.500 đồng + 8.150.000 đồng = 13.754.500 đồng, (H chưa trả thưởng cho D)
(2) Nhận 02 tin nhắn từ số điện thoại 0973.159.xxx của Nguyễn Văn P nhắn đến để mua số lô, số đề, sau khi nhận được các tin nhắn, H đã soạn tin nhắn xác nhận chấp nhận tất cả 2 tin, cụ thể:
Tin nhắn 1: mua các số lô 25, 52, 53, 58, 85 mỗi số 10 điểm (50); mua các số lô 17, 21, 26, 71, 72, 02 ,34, 43, 48, 47, 15, 51, 19, 91, 96, 33, 41, 82, 87, 74, 97,64, 69, 59, 06, 60, 29, 24 mỗi số 5 điểm(140).Tin nhắn 2: mua số lô xiên 3 58, 34, 52; 52, 58, 34 mỗi số 50.000 đồng(100); mua số lô xiên 2 52,58; 25, 58 mỗi số 50.000 đồng(100). Theo thoả thuận về tỷ lệ mua bán số lô, số đề với H thì P đã mua 190 điểm lô x 23.000 đồng = 4.370.000 đồng; mua 200.000 đồng số lô xiên. Tổng số tiền P mua số lô, đề của H là 4.370.000 đồng + 200.000 đồng = 4.570.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, P trúng thưởng các số lô: 25 = 10 điểm; 34, 48, 47, 51, 91, 96, 82, 59, 24, 17 (trúng 2 nháy) mỗi số lô trúng 5 điểm. Tổng cộng trúng thưởng 65 điểm lô x 80.000 đồng = 5.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với Nguyễn Văn P là 4.570.000 đồng + 5.200.000 đồng = 9.770.000 đồng.
(3) Nhận 06 tin nhắn từ số điện thoại 0397.627.xxx của người nam giới tên T1 (H không biết rõ địa chỉ cụ thể của T1) với nội dung mua các số lô, số đề, sau khi nhận được các tin nhắn, H đã soạn tin nhắn xác nhận chấp nhận tất cả 6 tin, cụ thể:
Tin nhắn 1: mua những số đề 62, 93, 16, 61 mỗi số đề 30.000 đồng; các số 26, 06, 60, 00, 50, 05, 55, 39, 11, 66 mỗi số đề 5.000 đồng; các số 13, 31 mỗi số đề 10.000 đồng; các số 29, 92, 79, 97, 47, 74, 24, 42 mỗi số đề 2.000 đồng; xiên 201, 11 = 20.000 đồng; 10, 11 = 20.000 đồng; Tin nhắn 2: số đề 33 = 30.000 đồng; các số đề 88, 77, 44, 55 mỗi số đề 10.000 đồng; các số đề 08, 18, 28, 48, 58, 68, 78, 22, 33, 11, 44, 97, 94, 96 mỗi số đề 5.000 đồng; số đề 68 = 20.000 đồng; các số đề 49, 67 mỗi số đề 10.000 đồng; các số đề đầu 4 (40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47,48, 49) mỗi số đề 10.000 đồng; số đề kép (các số 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99) mỗi số đề 4.000 đồng; Tin nhắn 3: Số đề 88 = 50.000 đồng; đề 33 = 150.000 đồng; các số đề đầu 7 (70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79) mỗi số đề 5.000 đồng; Số lô 59, 95 mỗi số lô 5 điểm; Tin nhắn 4: Đề 33, 88 mỗi số đề 5.000 đồng; đề 68, 86, 69, 96, 04, 40 mỗi số đề 3.000 đồng; Số lô 76, 67, 17, 52, 60, 90 mỗi số lô 01 điểm; Số lô 46, 64 mỗi số lô 10 điểm; Số lô 29, 92, 69, 96 mỗi số lô 5 điểm; Tin nhắn 5: Đề 45, 54, 49, 94, 44, 59, 95, 40, 04, 44, 42, 48, 84 mỗi số đề 40.000 đồng; Tin nhắn 6: Đề 11, 58, 03, 21 mỗi số đề 50.000 đồng; Đề 18, 81, 45, 95, 57, 58, 66, 67, 68, 97, 87 mỗi số đề 5.000 đồng; Số đề 3 càng 681 = 5.000 đồng; Số lô 05, 58 mỗi số lô 10 điểm. Theo thoả thuận về tỷ lệ mua bán số lô, số đề với H thì T1 đã mua 76 điểm lô x 21.800 đồng = 1.656.800 đồng; mua 1.634.000 đồng số đề x 75% = 1.225.500 đồng; mua 40.000 đồng số lô xiên x 65% = 26.000 đồng. Tổng số tiền T1 mua số lô, đề của H là 1.656.800 đồng + 1.634.000 đồng = 2.908.300 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, T1 trúng thưởng các số lô 59, 92, 96 mỗi số 5 điểm, 17 = 01 điểm (trúng 2 nháy), tổng trúng 17 điểm lô x 80.000 đồng =1.360.000 đồng; trúng thưởng 33.000 đồng tiền đề x 70 lần = 2.310.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 3.670.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với T1 là 2.908.300 đồng + 3.670.000 đồng = 6.578.300 đồng.
(4) Nhận 06 tin nhắn từ số điện thoại 0326.918.xxx của người nam giới tên T2 với nội dung mua các số lô, số đề, sau khi nhận được các tin nhắn, H đã soạn tin nhắn xác nhận chấp nhận tất cả 6 tin, cụ thể:
Tin nhắn 1: mua các số lô 34, 96 mỗi số lô 25 điểm; số lô 80 = 50 điểm; Tin nhắn 2: Số lô 69 = 50 điểm; số lô 96 = 75 điểm; Tin nhắn 3: số đề 14, 41 mỗi con 30.000 đồng; Lô xiên 09, 24, 90 = 100.000 đồng; Số đề 09 = 90.000 đồng; số đề 90 = 70.000 đồng; số đề 24 = 270.000 đồng; Tin nhắn 4: Số lô 51, 63 mỗi số lô 10 điểm; Xiên 51, 36, 63 = 50.000 đồng; Tin nhắn 5: Số lô 23, 23, 32, 29, 92, 25, 52, 06, 60, 60, 33, 22, 88, 88 mỗi số lô 100 điểm; Tin 6: Số L, 32, 25 mỗi số lô 40 điểm; Số lô 51 = 50 điểm. Theo thoả thuận về tỷ lệ mua bán số lô, số đề với H thì T2 đã mua 1.815 điểm lô x với giá 21.800 đồng = 39.567.000 đồng; mua 490.000 đồng số đề x 75% = 367.500 đồng; mua 150.000 đồng số lô xiên x 65% = 97.500 đồng. Tổng số tiền T2 mua số lô, số đề của H là 39.567.000 + 367.500 + 97.500 = 40.032.000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, T2 trúng thưởng các số lô 51 = 60 điểm, 34 = 25 điểm, 92, 96 mỗi số 100 điểm, 25 = 140 điểm, tổng trúng 425 điểm lô x 80.000 đồng = 34.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với T2 là 40.032.000 đồng + 34.000.000 đồng = 74.032.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Hải H cá cược đánh bạc với Dương Thị D, Nguyễn Văn P, T1, T2 là 13.754.500 đồng + 9.770.000 đồng + 6.578.300 đồng + 74.032.000 đồng = 104.134.800 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra H khai không quen biết các đối tượng T1, T2, không biết hai đối tượng này đang ở đâu. Do vậy, chỉ xác định số tiền Nguyễn Hải H đánh bạc với Dương Thị D và Nguyễn Văn P ngày 28/6/2024 là 13.754.500 đồng + 9.770.000 đồng = 23. 524.500 đồng.
Các số lô, số đề bán được trong ngày 28/6/2024, Nguyễn Hải H giữ lại một phần để tự cá cược thắng thua với người chơi. Số còn lại, H tổng hợp lại và cùng với số lô, số đề bản thân H tự mua, nhắn tin từ số điện thoại 0974.429.xxx của H đến số điện thoại 0365.983.xxx của K: 1.904 điểm lô x 21.750 đồng = 41.412.000 đồng; 3.774.000₫ số đề, 3 càng x 73% = 2.755.020 đồng; 147.000 đồng số xiên x 61% = 89.670 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề là 41.412.000 đồng + 2.755.020 đồng + 89.670 đồng = 44.256.690 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, H trúng thưởng 444 điểm lô x 80.000 đồng = 35.520.000 đồng; trúng 10.000 đồng ba càng x 350 lần = 3.500.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 35.520.000 đồng + 3.500.000 đồng = 39.020.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền H cá cược đánh bạc với K là 44.256.690 đồng 44.256.600 đồng + 39.020.000 đồng = 83.276.600 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được đối tượng K nên không có căn cứ để xử lý.
Trong đó, các số lô, số đề bản thân Nguyễn Hải H nhắn tin để mua của K là: số lô 58 = 10 điểm x 21.750 đồng = 217.500 đồng; Đề có số đầu 1 và đề có số đầu 2 mỗi số 10.000 đồng = 200.000 đồng tiền số đề x 73% = 146.000 đồng. Tổng Hà đã mua số lô, số đề cược riêng với K là 363.500 đồng. Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, số lô, số đề H mua đều không trúng thưởng.
Bản thân Nguyễn Hải H tự giữ lại các số lô để tự cá cược thắng thua với người chơi, cụ thể:
- Giữ lại của Dương Thị D: các số lô 08, 59, 15, 19 mỗi số lô 10 điểm; các số lô 65, 99, 00, 52, 59, 47, 74, 19, 91, 30, 61, 65 mỗi số lô 05 điểm; các số lô: 16, 61, 23, 32, 59, 95, 02, 20, 01, 10, 54, 44, 49, 94 mỗi số giữ lại 02 điểm. Tổng 128 điểm lô x 21.800 đồng = 2.790.400 đồng.
Dung trúng thưởng các số lô 59 = 17 điểm, 65 = 10 điểm, 47, 91 mỗi số = 5 điểm, 56 = 2 điểm. Tổng trúng 39 điểm lô x 80.000 đồng = 3.120.000 đồng. Tổng số tiền H giữ lại cá cược với Dương Thị D là 2.790.400 đồng + 3.120.000 đồng = 5.910.400 đồng.
- Giữ lại của Nguyễn Văn P các số lô: 25, 52, 53, 58, 85 mỗi số lô 10 điểm; số lô 17, 21, 26, 71, 72, 02, 34, 43, 48, 47, 15, 51, 19, 91, 96, 33, 41, 82, 87, 74, 97, 64, 69, 59, 06, 60, 29, 24 mỗi số lô giữ lại 02 điểm. Tổng giữ lại 106 điểm lô x với giá 23.000 đồng = 2.438.000 đồng.
Phong trúng thưởng các số lô 25 = 10 điểm, 17 = 2 điểm (trúng 2 nháy), 34, 48, 47, 51, 91, 96, 82, 59, 24 mỗi số 2 điểm, tổng trúng 32 điểm lô x với tỷ lệ 80.000 đồng = 2.560.000 đồng. Tổng số tiền H giữ lại cá cược với Nguyễn Văn P là 2.438.000 đồng + 2.560.000 đồng = 4.998.000 đồng.
- Giữ lại của T1 các số lô: 59, 95, 69, 96, 29, 92 mỗi số lô 5 điểm; các số lô 46, 64 mỗi số lô 10 điểm; các số lô 76, 67, 17, 52, 60, 90 mỗi số lô 01 điểm. Tổng giữ lại 56 điểm lô x 21.800 đồng = 1.220.800 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, T1 trúng thưởng các số lô 59, 96, 92 mỗi số = 5 điểm, 17 =01 điểm (trúng 2 nháy), tổng trúng 17 điểm lô x 80.000 đồng = 1.360.000 đồng. Tổng số tiền H giữ lại cá cược với T1 là 1.220.800 đồng + 1.360.000 đồng = 2.580.800 đồng.
- Giữ lại của T2 các số lô: 34, 96, 80, 69 mỗi số lô 10 điểm. Tổng giữ lại 40 điểm lô x với giá 21.800 đồng = 872.000 đồng.
Căn cứ kết quả xổ số miền bắc ngày 28/6/2024, T2 trúng thưởng các số lô 34, 96 mỗi số 10 điểm, tổng trúng 20 điểm lô x 80.000 đồng = 1.600.000 đồng. Tổng số tiền H giữ lại cá cược với T2 là 872.000 đồng + 1.600.000 đồng = 2.472.000 đồng.
Nguyễn Hải H đã giữ lại tổng số tiền 2.790.400 đồng + 2.438.000 đồng + 1.220.800 đồng + 872.000 đồng = 7.321.200 đồng và số tiền trúng thưởng là 3.120.000 đồng + 2.560.000 đồng + 1.360.000 đồng + 1.600.000 đồng = 8.640.000. Như vậy tổng số tiền H tự giữ lại cá cược thắng thua với các con bạc là 7.321.200 đồng + 8.640.000 đồng = 15.961.200 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên K, T1, T2 nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Hải H đánh bạc với K, T1, T2.
1.2. Bị cáo Dương Thị D.
- Ngày 27/6/2024, Dương Thị D sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs đang được lắp sim điện thoại có số thuê bao 0329996134 nhắn tin đến số điện thoại 0974.429.xxx của Nguyễn Hải H để mua số lô, số đề (gồm các số lô, số đề Nguyễn Hải H bán cho Dương Thị D nêu tại phần 1.1). Tổng cộng D mua số lô, số đề của H là 3.247.000 đồng. Tổng số tiền D thắng cược là 3.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Dương Thị D cá cược đánh bạc với H ngày 27/6/2024 là 3.247.000 đồng + 3.200.000 đồng = 6.447.000 đồng.
Ngày 28/6/2024, Dương Thị D sử dụng chiếc điện thoại nàng trên cùng số thuê bao 0329996134 nhắn 07 tin nhắn đến số điện thoại 0974.429.xxx của Nguyễn Hải H để mua số lô, số đề (gồm các số lô, số đề Nguyễn Hải H bán cho Dương Thị D nêu tại phần 1.1). Tổng số tiền Dương Thị D mua số lô, số đề của H ngày 28/6/2024 là 5.604.500 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số ngày 28/6/2024 D5 thắng cược 8.150.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Dương Thị D cá cược đánh bạc với Nguyễn Hải H là 13.754.500 đồng.
1.3. Bị cáo Nguyễn Văn P.
Ngày 26/6/2024, Nguyễn Văn P sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A7 đang được lắp sim điện thoại có số thuê bao 0973159215 nhắn tin đến số điện thoại 0974.429.xxx của Nguyễn Hải H để mua số lô, số đề. Tổng số tiền Nguyễn Văn P mua số lô, số đề của H là 4.340.000 đồng. Tổng số T5 cược là 4.000.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn P cá cược đánh bạc với Nguyễn Hải H ngày 26/6/2024 là 4.340.000 đồng + 4.000.000 đồng = 8.340.000 đồng.
Ngày 27/6/2024, Nguyễn Văn P sử dụng chiếc điện thoại nêu trên cùng số thuê bao 0973159215 nhắn tin đến số điện thoại 0974.429.xxx của Nguyễn Hải H để mua số lô, số đề (gồm các số lô, số đề Nguyễn Hải H bán cho Nguyễn Văn P nêu tại phần 4.1). Tổng số tiền Nguyễn Văn P mua số lô, số đề của H là 3.385.000 đồng. Tổng số T5 cược là 4.800.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn P cá cược đánh bạc với Nguyễn Hải H ngày 27/6/2024 là 3.385.000 đồng + 4.800.000 đồng = 8.185.000 đồng.
Ngày 28/6/2024, Nguyễn Văn P sử dụng chiếc điện thoại nêu trên cùng số thuê bao 0973159215 nhắn tin đến số điện thoại 0974.429.xxx của Nguyễn Hải H để mua số lô, số đề (gồm các số lô, số đề Nguyễn Hải H bán cho Nguyễn Văn P nêu tại phần 4.1). Tổng số tiền Nguyễn Văn P mua số lô, số đề của H ngày 28/6/2024 là 4.570.000 đồng. Tổng số T5 cược là 5.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Nguyễn Văn P cá cược đánh bạc với Nguyễn Hải H là 9.770.000 đồng.
2. Tổng số tiền các bị cáo mua bán số lô, số đề như sau:
2.1. Đối với Nguyễn Hải H: Đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho Dương Thị D vào các ngày 27/6/2024 là 6.447.000 đồng; ngày 28/6/2024 là 13.754.500 đồng. Bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn P vào các ngày 26/6/2024 là 8.340.000 đồng; ngày 27/6/2024 là 8.185.000 đồng; ngày 28/6/2024 là 9.770.000 đồng). Như vậy, tổng số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc với Dương Thị D và Nguyễn Văn P trong các ngày 26, 27, 28/6/2024 là 8.340.000 đồng + 8.185.000 đồng + 9.770.000 đồng + 20.496.500 đồng = 46.496.500 đồng. H chưa thanh toán tiền thắng thua cho D và P.
2.2. Đối với bị cáo Dương Thị D: Đã thực hiện hành vi cá cược đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Nguyễn Hải H vào ngày 27/6/2024 là 6.447.000 đồng và ngày 28/6/2024 là 13.754.500 đồng.
2.3. Đối với bị cáo Nguyễn Văn P: Đã mua số lô, số đề của Nguyễn Hải H vào các ngày 26/6/2024 là 8.340.000 đồng; ngày 27/6/2024 là 8.185.000 đồng; ngày 28/6/2024 là 9.770.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 155/CT-VKS-P2 ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P về tội; Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P đã và đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không khai báo gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Q chiếc điện thoại bị tạm giữ chị đã được cơ quan điều tra trả lại, nay không đề nghị gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tranh tụng tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định truy tố, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên toà, trên cơ sở phân tích các căn cứ quyết định hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P phạm tội: Tội đánh bạc.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35 điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H, hình phạt chính là phạt tiền từ 50.000.000 đồng tiền N1 đến 60.000.000 đồng tiền N1.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hải H được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Thị D 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 24 tháng đến 30 tháng cải tạo không giam giữ
Các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2004 đến ngày 07/8/2024.
Đề nghị giao các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân nơi thường xuyên cư trú của các bị cáo được trực tiếp giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo, nhưng các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật Hình sự.
3. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đề nghị tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng để thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề nhưa sau: Bị cáo Nguyễn Hải H 25.350.000 đồng, bị cáo Dương Thị D 8.851.500 đồng, bị cáo Dương Văn P1 12.295.000 đồng.
Đề nghị tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S, màu vàng, lắp sim số 0982859928; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs, màu đen, lắp sim số 0329996134; 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A7 màu vàng, lắp sim số 0973159215 (tạm giữ của Nguyễn Văn P). Là phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải H: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, lắp sim số 0974429375 (tạm giữ của Nguyễn Hải H); Trả lại cho bị cáo Dương Thị D 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu xám ghi, lắp sim số 0346369888 và (tạm giữ của Dương Thị D), không liên quan đến vụ án.
Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Q 01 chiếc điện thoại di động không liên quan đến vụ án.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Qua trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có ý kiến gì, nhất trí với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P nhất trí với luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đều không có tranh luận và đối đáp. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, mở lượng khoan hồng, đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã Quyết định truy tố đối với các bị cáo, thể hiện trong tháng 6 năm 2024 các bị cáo thông qua trang tin nhắn điện thoại “SMS” để thực hiện hành vi cá cược được thua bằng tiền dưới hình thức cá cược ghi số lô, số đề, như sau.
Trong các ngày 26, ngày 27, ngày 28/6/2024, bị cáo Nguyễn Hải H đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho Dương Thị D vào các ngày 27/6/2024 số tiền các cược thắng thua là 6.447.000 đồng; ngày 28/6/2024 số tiền cá cược thắng thua là 13.754.500 đồng. Bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn P vào các ngày 26/6/2024 số tiền cá cược thắng thua là 8.340.000 đồng; ngày 27/6/2024 số tiền cá cược thắng thua là 8.185.000 đồng; ngày 28/6/2024 số tiền cá cược thắng thua là 9.770.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền bị cáo Nguyễn Hải H sử dụng để đánh bạc với Dương Thị D và Nguyễn Văn P trong các ngày 26, 27, 28/6/2024 là 6.447.000 đồng +13.754.500 đồng + 8.340.000 đồng + 8.185.000 đồng + 9.770.000 đồng = 46.496.500 đồng. Hành vi cá cược ăn thua bằng hình thức ghi số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Hải H đã phạm vào tội: Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Dương Thị D đã mua số lô, số đề của Nguyễn Hải H vào ngày 27/6/2024 với số tiền mua lô đề là 3.247.000 đồng, D trúng thưởng là 3.200.000 đồng, tổng số tiền D cá cược với H là 6.447.000 đồng; Ngày 28/6/2024 với số tiền mua lô đề là 5.604.500 đồng, D trúng thưởng là 8.150.000 đồng, tổng số tiền D cá cược với H là 13.754.500 đồng. Tổng công 02 lần Dương Thị D cá cược, mua số lô, số đề với Nguyễn Hải H là 20.201.500 đồng. Hành vi cá cược thắng thua bằng hình thức chơi lô đề của bị cáo Dương Thị D đã phạm vào tội: Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn P đã mua số lô, số đề của Nguyễn Hải H vào ngày 26/6/2024 số tiền cá cược là 4.340.000 đồng, P trúng thưởng là 4.000.000 đồng, tổng số tiền Phong cá cược mua lô đề là 8.340.000 đồng; Ngày 27/6/2024, số tiền cá cược mua lô đề là 3.385.000đồng, P trúng thưởng là 4.800.000 đồng, tổng số tiền Phong cá cược mua lô đề là 8.185.00 đồng; Ngày 28/6/2024 số tiền cá cược là 4.570.000 đồng, phong trúng thưởng là 5.200.000 đồng, tổng số tiền Phong cá cược mua lô đề là 9.770.000 đồng. Tổng công 03 lần Nguyễn Văn P cá cược, mua số lô, số đề với Nguyễn Hải H là 26.295.000 đồng. Hành vi cá cược thắng thua bằng hình thức chơi lô đề của bị cáo Nguyễn Văn P đã phạm vào tội: Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Đơn tố giác tội phạm (nặc danh) ngày 27 tháng 6 năm 2024 kèm biên bản xác minh nội dung tố giác hồi 18 giờ 35 phút ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại xã C, huyện M, tỉnh Sơn La của Phòng C2 công an tỉnh S.
Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử hồi 19 giờ 10 phút ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Phòng C2 công an tỉnh S đối với Nguyễn Hải H, sinh năm 1983 và vật chứng thu giữ, kèm theo 6 ảnh chụp.
Biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong và ghi nhận nội dung lưu trữ trong điện thoại và niêm phong lại hồi 20 giờ 10 phút ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Phòng C2 công an tỉnh S và vật chứng thu giữ, kèm 10 ảnh chụp nội dung tin nhắn.
Biên bản kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 26/6/2024, 27/6/2024 và ngày 28/6/2024.
Sao kê tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Q2, chi nhánh tỉnh S (M) tài khoản số 5123456222222 mang tên Nguyễn Hải H; sao kê tài khoản ngân hàng N2, chi nhánh tỉnh S tài khoản số 7901205096857 mang tên Dương Thị D và tài khoản số 7901205300411 mang tên Nguyễn Văn P, phát sinh từ ngày 01/3/2024 đến ngày 28/6/2024.
Báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc thoại và SMS của các số thuê bao 034.636.9xxx mang tên Dương Thị D; số thuê bao 0973159215 mang tên Nguyễn Văn P; số thuê bao 0982859928 mang tên Nguyễn Hải H từ ngày 01/3/2024 đến ngày 28/6/2024.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P tại cơ quan điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau về thời gian, diễn biến hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ của các bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp và đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên, trên cơ sở đó có đủ căn cứ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D và Nguyễn Văn P, phạm tội: Tội đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng quy định của pháp luật
[4] Về khung hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Các bị cáo phạm tội; Tội đánh bạc, vi phạm khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi, vai trò phạm tội:
Các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P, đã đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề giá trị thắng thua có giá trị trên 5.000.000 đồng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quản lý Nhà nước về trật tự công cộng, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là trái quy định pháp luật nhưng chỉ vì thiếu ý thức chấp hành pháp luật, mong muốn thu lời bất chính một cách nhanh chóng nên cố ý thực hiện tội phạm nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm lây lan các tệ nạn xã hội, xâm phạm giữ gìn trật tự công cộng. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương và việc xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh tại địa phương.
Vai trò phạm tội của các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D và Nguyễn Văn P trong vụ án: Các bị cáo cùng tham gia đánh bạc với vai trò là người thực hành; bị cáo Nguyễn Hải H là người khởi xướng đóng vai trò trung gian, nhận ghi và bán số lô số đề cho các con bạc khác tham gia mua bán số lô, số đề. Đồng thời giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ hay tổ chức chặt chẽ, xác định kế hoạch cụ thể giữa các đối tượng. Các bị cáo chỉ biết về hoạt động tội phạm khi bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm nên cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Các bị cáo cố ý cùng thực hiện tội phạm thuộc trường hợp đồng phạm (tính chất giản đơn) theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự, khi lượng hình cần căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự để xem xét tính chất, mức độ tham gia vai trò phạm tội của từng bị cáo.
[6] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Trong một thời gian ngắn các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P đều phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P được quy định trại điểm i, khoản 1 Điều 51. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P đã thành khẩn khai báo, các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P thực sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhân thân bị cáo Dương Thị D là phụ nữ là cháu liệt sỹ Tổ quốc ghi công, bị cáo Nguyễn Văn P có bà ngoại được tặng bằng khen và các bị cáo phần nhiều đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Hải H đã có tiền án về tội đánh bạc (đã được xóa án tích), song bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự về tội đánh bạc có quy định phạt tiền là hình phạt chính, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, luận tội đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Hải H có đủ điều kiện về kinh tế để thi hành hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo, căn cứ vào điều kiện kinh tế, nhân thân bị cáo, vai trò phạm tội. Cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính để nộp vào ngân sách Nhà nước vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P đều phạm tội lần đầu chưa có tiền án tiền sự, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo có yêu cầu và đề nghị xin được cải tạo giáo dục tại địa phương, lời luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tại phiên toà đề nghị lên mức án cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P. Hội đồng xét xử xét thấy ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội chấp hành đúng chính sách pháp luật, nội quy, quy chế của thôn, tiểu khu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Có nơi thường trú rõ ràng xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo. Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú của bị cáo được phối hợp với gia đình các bị cáo được trực tiếp, theo dõi, giám sát, quản lý, giáo dục các bị cáo, vận dụng khoản 1, khoản 2, Điều 36 Bộ Luật Hình sự. Cần lên một mức án cải tạo không giam giữ tương xứng với hành vi vai trò phạm tội và số tiền đánh bạc của từng bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.
[7] Các bị cáo Dương Thị D và Nguyễn Văn P hiện đang tại ngoại, thời hạn chấp hành thi hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo được tính từ ngaỳ UBND thường trú của các bị cáo và cơ quan thi hành án hình sự nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án.
[8] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, phạt tiền, các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D và Nguyễn Văn P còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Hải H còn phải thực hiện trách nhiệm áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, các bị cáo Dương Thị D, nguyễn Văn P không có khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P.
Tại khoản 3 điều 36 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước....”. Xét thấy, các bị cáo Dương Thị D, Nguyễn Văn P đều là lao động tự do không có nghề nghiệp ổn định không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo, song các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 Bộ luật Hình sự.
[9] Các đối tượng khác trong vụ án:
9.1. Đối với các đối tượng thể hiện mua số lô, số đề qua điện thoại di động của Nguyễn Hải H gồm: Người có tên là T1, tên là T2, tên là K; Quá trình điều tra, xác minh Nguyễn Hải H không biết thông tin, địa chỉ của các đối tượng này, chỉ biết số điện thoại nhắn đến nhưng các thuê bao này đều không đăng ký chính chủ. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với người tên là T1, T2, K và ngoài lời khai của bị cáo Nguyễn Hải H ra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có căn cứ để quy kết số tiền ghi lô đề giữa Nguyễn Hải H với người tên là T1, T2, K.
9.2. Kết quả xác minh đăng ký chủ thuê bao đối với các số điện thoại liên quan trong vụ án bao gồm: 0974429375; 0982859928; 0329996134; 0346369888; 0973159215; 0365983148; 0397627696; 0326918685.
Kết quả xác định:
- Số thuê bao 0365983148 Hà khai của người đàn ông tên K. Xác minh về số thuê bao 0365983148, kết quả chủ thuê bao có thông tin như sau: “Tòng Văn C1, sinh ngày 08/3/1980, địa chỉ: bản M, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La, CCCD số: [...], cấp ngày 17/4/2021, nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, thuê bao kích hoạt ngày 22/02/2024". Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La xác định trên địa bàn có công dân Tòng Văn C1 có thông tin cá nhân như trên. Tiến hành lấy lời khai Tòng Văn C1, kết quả Tòng Văn C1 trình bày bản thân Tòng Văn C1 không được đăng ký, sử dụng thuê bao số điện thoại 0365.983.xxx và không quen biết Nguyễn Hải H, không biết ai tên K, không biết và tham gia gì vào hoạt động đánh bạc mua bán số lô, số đề;
- Số thuê bao 0397627696 H khai của người đàn ông tên T1. Xác minh về số thuê bao này, kết quả chủ thuê bao có thông tin như sau: "Bùi Bích N, sinh ngày 27/7/1995; địa chỉ: tiểu khu N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, CCCD số. [...], cấp ngày 25/6/2021, nơi cấp: Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; thuê bao kích hoạt ngày 14/8/2023". Cơ quan điều tra đã lấy lời khai Bùi Bích N, kết quả N trình bày có đăng ký, sử dụng số thuê bao 0397627696 từ khoảng tháng 8/2023, N sử dụng được một tuần thì bị mất điện thoại cùng số thuê bao trên nhưng N không đi đăng ký cấp lại sim điện thoại. N không quen biết Nguyễn Hải H, không quen biết ai tên T1 và không biết và tham gia gì vào hoạt động đánh bạc mua bán số lô, số đề;
- Số thuê bao 0326918685 H khai của người đàn ông tên T2. Xác minh về số thuê bao này, kết quả chủ thuê bao có thông tin như sau: “Lê Khắc D2, sinh ngày 07/3/1999, địa chỉ: V/11 N, Tt Ba N Ð, H, Hà Nội; Số CMT/CCCD: [...], cấp ngày 02/11/2016, Cục trưởng CCS ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư; thuê bao kích hoạt ngày 11/02/2020". Cơ quan điều tra đã tiền hành lấy lời khai Lê Khắc D2, kết quả D2 trình bày bản thân D2 không được đăng ký, sử dụng số thuê bao 0326918685, không quen biết Nguyễn Hải H, không quen biết ai tên T2, không biết và tham gia gì vào hoạt động đánh bạc mua bán số lô, số đề.
- Số thuê bao 0974429375 do Nguyễn Hải H sử dụng đăng ký thông tin Hà Văn D3, sinh ngày 15/12/2001, địa chỉ: bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Nguyễn Hải H trình bày số thuê bao là sim rác do H mua sử dụng. Làm việc với Hà Văn D3 xác định không được đăng ký sử dụng thuê bao trên và không quen biết Nguyễn Hải H;
- Số thuê bao 0982859928 do Nguyễn Hải H sử dụng đăng ký chính chủ, H khai không sử dụng số thuê bao này vào hoạt động mua bán số lô, đề;
- Số thuê bao 00329996134, do Dương Thị D sử dụng đăng ký thông tin Phạm Văn T3, sinh ngày 04/4/1960, địa chỉ: xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. D trình bày số thuê bao là sim rác do D mua sử dụng, không nhớ địa chỉ mua sim. Làm việc với Phạm Văn T3 xác định không được đăng ký sử dụng thuê bao trên và không quen biết Dương Thị D;
- Số thuê bao 0346369888 do Dương Thị D sử dụng đăng ký chính chủ, không sử dụng vào hoạt động mua bán số lô, số đề;
- Số thuê bao 0973159215 do Nguyễn Văn P sử dụng đăng ký chính chủ;
Đối với các số thuê bao khác, Cơ quan điều tra đã tiền hành lấy lời khai của các chủ tài khoản số thuê bao, xác nhận bản thân những người này không được đăng ký, sử dụng số thuê bao trên, không quen biết Nguyễn Hải H, không biết và tham gia gì vào hoạt động đánh bạc mua bán số lô, số đề. Do vậy không có căn cứ xác định mức độ liên quan của các chủ thuê bao đối với các số điện thoại trong vụ án như đã nêu trên.
[10] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động cơ quan tạm giữ của Nguyễn Hải H; 01 chiếc điện thoại di động tạm giữ của Dương Thị D; 01 điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn P. Hội đồng xét xử xét thấy là công cụ phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc sử dụng đánh bạc dùng vào việc phạm tội. Cần tuyên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo Nguyễn Hải H, 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo Dương Thị D. Xét thấy là tài sản chính chủ của các bị cáo, các bị cáo không dùng vào việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D. Số vỏ gói niêm phang ban đầu không còn giá trị sử dụng tuyên tiêu hủy; Áp dung điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về tuyên truy thu số tiền đánh bạc của các bị cáo:
Đối với số tiền dùng và sẽ dùng (trả thưởng) vào việc đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề các bị cáo chưa thanh toán cho nhau, chưa thu giữ được của các bị cáo. Xét thấy là tiền dùng vào việc phạm tội đánh bạc cần tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước, Áp dung điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, vận dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 321 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P, phạm tội: Tội đánh bạc.
1.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hải H 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền N1.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hải H được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 2 Điều 36, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Thị D 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 40 (bốn mươi) ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024 đến ngày 7/8/2024 được quy đổi bằng 120 ( một trăm hai mươi) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La và cơ quan thi hành án hình sự nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Dương Thị D cho Ủy ban nhân dân xã C, Huyện M, tỉnh Sơn La để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Dương Thị D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Dương Thị D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D4 được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Dương Thị D, bị cáo Dương Thị D phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Dương Thị D cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
1.3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 2 Điều 36, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 40 (bốn mươi) ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024 đến ngày 07/8/2024 được quy đổi bằng 120 ( một trăm hai mươi) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 20 (hai mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La và cơ quan thi hành án hình sự nhận được bản sao Bản án và Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn P có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Sơn La trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn P được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Văn P, bị cáo Nguyễn Văn P phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Văn P cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, điểm b, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử lý vật chứng vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La, vật chứng được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La như sau.
2.1. Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước:
01 (Một) chiếc phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: "01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung do Nguyễn Hải H tự giác giao nộp". Mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong số 047325 của Công an tỉnh S và có 01 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong (Bên trong phong bì niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime vỏ màu vàng, màn hình cảm, bên trong điện thoại gắn 01 sim điện thoại).
01 (Một) chiếc phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs tạm giữ của Dương Thị D". Mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong số 047320 của Công an tỉnh S có hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong (Bên trong phong bì niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs vỏ màu đen đã qua sử dụng cũ, bên trong điện thoại lắp sim điện thoại).
01 (Một) chiếc phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “01 điện thoại di động nhãn hiệu S1 (2018) tạm giữ của Nguyễn Văn P". Mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong số 047319 của Công an tỉnh S có hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong (Bên trong phong bì niêm phong 01 điện thoại nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A7(2018) màu vàng có vỏ ốp điện thoại bằng nhựa trong viền mầu đen, mặt trước màn hình điện thoại có vết nứt, bên trong điện thoại gắn 01 sim điện thoại).
2.2. T4 trả lại cho bị cáo Nguyễn Hải H 01 (một) chiếc điện thoại đã được niêm phong trong 01 (Một) chiếc phong bì của Phòng C2 Công an tỉnh S nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: "CÔNG AN TỈNH SƠN LA, PHÒNG C2, PHONG BÌ NIÊM PHONG. Vật chứng vụ: Nguyễn Hải H và đồng bọn có hành vi đánh bạc phát hiện ngày 28/6/2024 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Niêm phong hồi 10 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 7 năm 2024. Tại phòng C2 - Công an tỉnh S. 01 điện thoại Iphone 6S gửi giám định". Mặt sau phong bì dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số 060363 và có 02 hình dấu đỏ của Phòng C2 Công an tỉnh S và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong (Bên trong phong bì niêm phong 01 điện thoại Iphone 6S vỏ màu vàng, đã bị hư hỏng, không lắp được sim, hai đầu trên dưới bị gãy, bong, vỡ màn hình không lên nguồn).
T4 trả lại cho bị cáo Dương Thị D 01 (một) chiếc điện thoại đã được niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì nguyên niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: "01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 tạm giữ của Dương Thị D". Mặt sau tại mép giáp lai dán giấy niêm phong số 047321 của Công an tỉnh S và có hình dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong (Bên trong phong bì niêm phong 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu xám ghi đã qua sử dụng cũ, bên trong điện thoại lắp 01 sim điện thoại).
2.3. Tuyên tiêu hủy: 01 Phong bì niêm phong đối tượng giám định đã bóc mở, 01 phong bì niêm phong đối tượng giám định đã bóc mở.
3. Về tuyên truy thu số tiền đánh bạc của các bị cáo như sau:
Tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Hải H là: 25.350.000.000 đồng (hai mươi năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng chẵn), tiền N1.
Tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Dương Thị D là: 8.851.500 đồng (tám triệu tám trăm năm mốt nghìn năm trăm đồng chẵn), tiền N1.
Tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Văn P là: 12.295.000 đồng (mười hai triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng chẵn), tiền N1.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Hải H, Dương Thị D, Nguyễn Văn P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày (11/12/2024)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày (11/12/2024) về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình đã được tuyên./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Tuấn Long |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tội đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
