Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 05 - 12 - 2024

V/v: “Ly hôn và tranh chấp

nuôi con chung”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thuỳ và bà Nguyễn Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1995;

Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã L, huyện L, tỉnh Yên Bái;

Địa chỉ liên hệ: B L, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Dương Thanh T, sinh năm 1990;

Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn Á, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 30 tháng 9 năm 2024, được bổ sung tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Chị và anh Dương Thanh T tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Q vào ngày 16/6/2015. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống chung hoà thuận, không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, thời gian sau này vợ chồng anh chị phát sinh nhiều vấn đề, vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống ảnh hưởng cuộc sống của đôi bên. Vợ chồng sống ly thân đã 05 năm nay, không còn quan tâm thiếu sự tin tưởng lẫn nhau về tình cảm và kinh tế nên cuộc sống hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Hiện nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng Chị có 01 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 12/11/2015; Sau khi ly hôn Chị có nguyện vọng được nuôi con Dương Hải N. Chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng Chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Dương Thanh T trình bày tại bản tự khai ngày 25/10/2024: Anh và chị Hoàng Thị H tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Q vào ngày 16/6/2015. Quá trình chung sống, vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống ảnh hưởng để cuộc sống của đôi bên. Anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên chị H xin ly hôn anh cũng nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng Anh có 01 con chung tên là Dương Hải N, sinh ngày 12/11/2015. Sau khi ly hôn Anh đồng ý giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng Anh không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, triệu tập tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự. Việc tuân thủ thực hiện quyền, nghĩa vụ của các đương sự đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Nhận thấy chị H, anh Tâm tình C vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị H được ly hôn anh T.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình, giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Dương Hải N, sinh ngày 12/11/2015 kể từ tháng 12/2024 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị H, anh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết và quan hệ tranh chấp: Chị Hoàng Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Dương Thanh T có địa chỉ thôn Á, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sựCăn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị H và anh Dương Thanh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn và Bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Thanh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, như vậy hôn nhân của A, Chị là hợp pháp. Theo chị H tình bày: Quá trình sống chung, vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, sau nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng tình trạng vợ chồng không cải thiện được, vợ chồng sống ly thân đã 05 năm nay, không ai quan tâm đến ai; không còn quan tâm nhau. Theo anh T trình bày tình cảm giữa hai vợ chồng không còn nên chị H xin ly hôn anh cũng nhất trí. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị H.

[4] Về quan hệ con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Thanh T thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Dương Hải N, sinh ngày 12/11/2015. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, và anh T đồng ý giao con cho chị H. Nguyện vọng của cháu Dương Hải N được ở cùng với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy, cháu N sống chung với chị H từ nhỏ đến nay đã ổn định nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, điều này phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của các bên.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hoàng Thị H và anh Dương Thanh T thống nhất vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị H phải chịu án phí sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Dương Thanh T.
  2. Về nuôi con chung, xử:

    Giao cho chị Hoàng Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con tên là Dương Hải N, sinh ngày 12/11/2015 kể từ tháng 12/2024 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Về cấp dưỡng nuôi con: không giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về chia tài sản chung, nợ chung: không giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh theo biên lai số 0003948 ngày 10 tháng 10 năm 2024. Chị H đã nộp đủ.
  5. Về quyền kháng cáo: chị Hoàng Thị H và anh Dương Thanh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã Vạn Ninh, h. Quảng Ninh
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ - ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Hoài yêu cầu được ly hôn Dương Thanh Tâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger