Hệ thống pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM BÌNH

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 03-12-2024

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chẩu Xuân Trường

2. Ông Nguyễn Tấn Ngợi

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Việt Anh, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ma Đình C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/10/1999;

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Bố đẻ: Ông Ma Đình N, sinh năm 1975; Mẹ đẻ: Ma Thị T, sinh năm 1975; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ: Hồ Thị T1, sinh năm 2004; Con: có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 21/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Ma Văn S, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Ma Đình C:

  • + Bà Vũ Thanh T2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).
  • + Ông Bùi Anh T3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Ma Đình M, sinh năm 1995;
  • + Anh Ma Đình T4, sinh năm 1998;
  • + Bà Ma Thị H, sinh năm 1977;
  • + Ông Triệu Văn L, sinh năm 1972;
  • Cùng địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang.
  • - Ông Đỗ Văn T5, sinh năm 1964;
  • Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

(Anh M, Ông T5 vắng mặt; Anh T4, Bà H, Ông L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 01/7/2024, Ma Đình C, sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang đi uống rượu về nhà thì quan sát thấy ông Ma Văn S, sinh năm 1974 (cùng thôn) điều khiển xe mô tô đi qua nhà C vào khu vực Khu Ổ, thuộc thôn Bản Tha, xã H, huyện L, do bực tức về việc trước đó ông S nói C làm vỡ ống điếu và dọa đánh nên C cầm theo 01 cây gậy rút bằng kim loại (kích thước dài 64,8cm, phần tay cầm bọc nhựa đen, dài 23,3cm, đường kính 2,5cm, phần thân kim loại dài 41,5cm) rồi điều khiển xe mô tô chạy theo để đánh ông S. Khi đến khu vực ông S làm rãnh đường bê tông thuộc thôn Bản Tha, xã H, huyện L, C dừng xe mô tô, tay trái cầm gậy kim loại chạy đến vị trí ông S thì ông S bỏ chạy vào đường mòn, C đuổi theo khi cách ông S khoảng 70cm, C dùng tay trái cầm gậy vụt một phát từ trên xuống dưới trúng vào vành trái mũ cối của ông S, làm mũ rơi xuống đất, ông S tiếp tục bỏ chạy, C tiếp tục vụt phát thứ hai theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng chẩm trái, phía trên sau đỉnh vành tai trái ông S làm ông S chảy máu. Do bị đau nên ông S đứng lại, quay người hướng về phía Cờ thì C tiếp tục dùng đoạn gậy bằng kim loại vụt một phát về phía người ông S theo chiều hướng từ trên xuống, ông S giơ tay phải lên đỡ thì trúng vào cẳng tay phải, lúc này ông S ngồi xuống đất, dùng tay trái che vết thương tại phần đầu, C tiếp tục dùng đoạn gậy bằng kim loại vụt liên tiếp ba phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng vai phải, lưng của ông S. Lúc này người dân xung quanh đến can ngăn nên C đi về nhà, còn ông S được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện C. Đến ngày 24/8/2024, ông S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ma Đình C.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 155/2024/KLTTCT-TTPY, ngày 06/8/2024 của trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận thương tích của Ma Văn S: vùng chẩm trái, phía trên sau đỉnh vành tai trái 08cm có sẹo kích thước (05x0,3)cm sẹo màu hồng, mềm, phẳng, bờ không gọn, tổn hại 02%; Cơ chế hình thành: Thương tích để lại sẹo vùng chẩm trái là do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ: 01 đoạn gậy bằng kim loại, dài 64,8cm, phần tay cầm bọc nhựa đen, dài 23,3cm, đường kính 2,5cm, phần thân kim loại dài 41,5cm; 01 mũ cối có kích thước (30,7 x 25,6 x 15)cm, đã được niêm phong theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Ma Văn S yêu cầu bị cáo Ma Đình C bồi thường số tiền 40.000.000 đồng gồm các khoản viện phí, bồi dưỡng sức khỏe. Trước khi mở phiên toà, bị cáo và bị hại đã thống nhất thoả thuận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 2.000.000 đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L theo Biên lai thu tiền số 0000558 ngày 03/12/2024 để bồi thường.

Cáo trạng số 17/CT-VKSLB ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Ma Đình C về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ma Đình C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (người phạm tội bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế), đề nghị xử phạt bị cáo Ma Đình C từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 357, 468 Bộ luật Dân sự; ghi nhận sự thoả thuận giữa bị hại và bị cáo, bị cáo Ma Đình C có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Ma Văn S tổng số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) đã nộp tạm thu tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L theo Biên lai thu tiền số 0000558 ngày 03/12/2024. Bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy bằng kim loại, dài 64,8cm, phần tay cầm bọc nhựa đen, dài 23,3cm, đường kính 2,5cm, phần thân kim loại dài 41,5cm; 01 hộp được niêm phong có dấu đỏ của Phòng K công an tỉnh T, bên trong có 01 mũ cối có kích thước (30,7 x 25,6 x 15)cm, phần vành mũ bên trái có vết rách, bục chỉ, kích thước 17,7x3,5)cm, tương ứng mặt bên trong mũ có mảnh nhựa vỡ khuyết, kích thước (12x8)cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình).

Ngoài ra đại diện Viện Kiểm sát đề nghị cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt chính: Áp dụng các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự (người phạm tội bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế), đề nghị xử phạt bị cáo Ma Đình C mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại, bị cáo Ma Đình C có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Ma Văn S tổng số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) đã nộp tạm thu tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L theo Biên lai thu tiền số 0000558 ngày 03/12/2024. Bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng).

- Về án phí, đề nghị cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị hại đề nghị xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm minh theo đúng quy định và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận về bồi thường dân sự như trên và không có yêu cầu gì khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng phù hợp với nhau, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 01/7/2024 tại khu vực Khu Ổ, thuộc thôn Bản Tha, xã H, huyện L, tỉnh Tuyên Quang, Ma Đình C đã có hành vi dùng tay trái cầm 01 cây gậy rút bằng kim loại dài 64,8cm (là hung khí nguy hiểm) vụt một phát trúng vùng chẩm trái, phía trên sau đỉnh vành tai trái và bốn phát trúng vào cẳng tay phải, vùng vai phải, lưng của ông Ma Văn S gây thương tích, tạo tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02% cho ông S. Bị cáo C dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông S vì cho rằng bị ông S xúc phạm, đe doạ nhưng quá trình điều tra và tại phiên toà đã xác định bị cáo phạm tội hoàn toàn xuất phát từ nguyên cớ nhỏ nhặt, ông S không có lỗi. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình truy tố bị cáo Ma Đình C về tội “Cố ý gây thương tích” với các tình tiết theo các điểm a, i (Dùng hung khí nguy hiểm, Có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo C có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm đánh nhiều nhát liên tục vào cơ thể của bị hại gây thương tích tổn hại 02% sức khoẻ cho bị hại. Khi được mọi người can ngăn, bị cáo mới chấm dứt hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với mục đích là gây thương tích và không nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội bồi thường thiệt hại”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 (bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế) Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm về sức khỏe của người khác. Hội đồng xét xử xét nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, cần thiết áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng án treo, xét không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử, giữa bị hại và bị cáo đã thoả thuận được về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận như sau: Bị cáo Ma Đình C có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Ma Văn S tổng số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) đã nộp tạm thu tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L theo Biên lai thu tiền số 0000558 ngày 03/12/2024. Bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng). Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 357, 468 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thoả thuận nêu trên giữa bị hại và bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy bằng kim loại, dài 64,8cm, phần tay cầm bọc nhựa đen, dài 23,3cm, đường kính 2,5cm, phần thân kim loại dài 41,5cm; 01 mũ cối có kích thước (30,7 x 25,6 x 15)cm đã được niêm phong theo quy định do bị hại không yêu cầu trả lại.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định (với lý do là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí) và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Căn cứ vào các điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 357, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Ma Đình C phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Ma Đình C 06 (sáu) tháng tù, hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận bị cáo Ma Đình C có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Ma Văn S tổng số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), được trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) đã nộp tạm thu tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện L theo Biên lai thu tiền số 0000558 ngày 03/12/2024. Bị cáo Ma Đình C phải bồi thường tiếp cho ông Ma Văn S số tiền 28.000.000đ (hai mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Vật chứng liên quan đến vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy bằng kim loại, dài 64,8cm, phần tay cầm bọc nhựa đen, dài 23,3cm, đường kính 2,5cm, phần thân kim loại dài 41,5cm; 01 hộp được niêm phong có dấu đỏ của Phòng K công an tỉnh T, bên trong có 01 mũ cối có kích thước (30,7 x 25,6 x 15)cm, phần vành mũ bên trái có vết rách, bục chỉ, kích thước 17,7x3,5)cm, tương ứng mặt bên trong mũ có mảnh nhựa vỡ khuyết, kích thước (12x8)cm, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 24 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình).

4. Về án phí: Bị cáo Ma Đình C được miễn 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Lâm Bình;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - CQCSĐT CA huyện Lâm Bình;
  • - CQTHAHS CA huyện Lâm Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Lam Bình;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Lâm Bình;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ma Đình C tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger