TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 30-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đạng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bình, bà Đỗ Thị Ấn.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Mai Minh Thuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 20/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với các bị cáo:
- Vừ Chúng D1, sinh năm 1987 tại xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 11/11/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vừ Pà S, sinh năm 1961 và bà Ly Thị C, sinh năm: 1966; có vợ Sùng Thị M, sinh năm 1988 và con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích theo quy định. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Hoàng Văn M1, sinh năm 1990 tại xã D, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng; CCCD số: [...], cấp ngày 07/4/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn P (đã chết) và bà Đào Thị D, sinh năm: 1963; vợ: Không có (chung sống như vợ chồng từ năm 2019 với chị Đào Thi M2, sinh năm 1997 nhưng không đăng ký kết hôn); con: có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Thào Nhè T, sinh năm 1979 tại xã P, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang; CCCD số: [...], cấp ngày 02/5/2021; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thào Chúng V, sinh năm 1936 và bà Vàng Thị P1, sinh năm: 1946; có vợ Hầu Thị S1, sinh năm 1979 và con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024, hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Vừ Chúng D1: Bà Nguyễn Thị Thanh H – Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn M1: Bà Bùi Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Thào Nhè T: Bà Nguyễn Thị Lan H2 – Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Trung K, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người làm chứng: Anh Sính Mí D2. Vắng mặt.
- - Người phiên dịch tiếng dân tộc Mông: Ông Vừ Mí X; địa chỉ: Tổ D, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 07/9/2024, Vừ C, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T hẹn gặp nhau tại thị trấn Yh để đi ăn cưới tại xã P, huyện Đ, sau đó cả ba cùng nhau uống nước, do còn sớm nên D1 rủ T, M1 đi đánh bida thì Thào, M1 đồng ý và cùng nhau đi đến Quán bida Anh V1 tại tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang do ông Hoàng Trung K, sinh năm 1975, trú tại Tổ F, thị trấn Y, huyện Y làm chủ hộ kinh doanh (Quán bida được Phòng tài chính - kế hoạch, Ủy ban nhân huyện Y cấp Giấy chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh, ngành nghề kinh doanh: Dịch vụ phục vụ đồ uống; hoạt động vui chơi, giải trí khác chưa được phân vào đâu (Dịch vụ Bida)). Khi đến Quán bida D1 bảo chủ quán lấy bóng bida, M1 bảo chủ quán lấy bộ bài tú lơ khơ ra để chơi; T, M1 và D1 tự lấy mỗi người 01 gậy bida treo ở trên tường. Sau khi có bóng bida, bộ bài tú lơ khơ và gậy bida thì D1 rủ M1, T đánh bida được thua bằng tiền, D1 nói M1 chấp với tỷ lệ 6/4 và đánh ván 200.000 đồng, khi nghe D1 nói vậy thì M1 nói “nếu đánh thì đánh T1” ý là đánh bida theo bài tú lơ khơ. Khi nghe M1 và D1 nói thì Thào không đồng ý và nói M1 đánh tốt hơn phải chấp T và D1 03 lá tức là đánh tỷ lệ 7/4, thì M1, D1 đồng ý rồi ba người bắt đầu chơi bida được thua bằng tiền từ khoảng 14 giờ ngày 07/9/2024. Hình thức chơi là trước mỗi ván bida Mài sẽ được chia 07 quân bài tú lơ khơ; D1, T được chia mỗi người 04 quân bài tú lơ khơ, quá trình chơi Mài phải đánh hết 07 quả bóng bida xuống lỗ tương ứng với số của 07 quân bài tú lơ khơ Mài được chia; D1 và T mỗi người phải đánh hết 04 quả bóng bida trên bàn xuống lỗ tương ứng với số của 04 quân bài tú lơ khơ D, T được chia, khi chia bài nếu lá bài trùng nhau thì có thể đánh số quả bóng bida ít hơn so với thực tế lá bài cầm trên tay, người nào đánh xuống lỗ hết số quả bóng bida tương ứng với số bài được chia thì thắng, hai người thua sẽ phải trả cho người thắng mỗi người số tiền 200.000 đồng, người thắng nhận được tổng số tiền 400.000 đồng từ hai người thua, đồng thời người thắng sẽ được đánh trước ván tiếp theo, số tiền sau mỗi ván thắng được D1, T, M1 đều cất vào túi quần đang mặc trên người, nếu thua thì lấy tiền trong túi quần đang mặc ra trả cho người thẳng, trong lúc chơi ai chia bài cũng được. Quá trình đánh bạc, V2 chúng D1 sử dụng 1.015.000 đồng để tham gia đánh bạc, Hoàng Văn M1 sử dụng 6.070.000 đồng để tham gia đánh bạc và Thào Nhè T sử dụng 2.290.000 đồng để tham gia đánh bạc. Cả ba người cùng nhau đánh bida được thua bằng tiền đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, thì Sính Mí D2 đi chơi về đến Quán bida nhìn thấy D1, M1 và T đang cùng nhau đánh bida được thua bằng tiền, D2 xem ba người đánh một lúc rồi mượn xe Thào đi về nhà tại xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Dinh, T và M1 tiếp tục cùng nhau đánh bida được thua bằng tiền đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền 9.375.000 đồng, trong đó: Tiền thu giữ trên bàn bida là 200.000 đồng, số tiền dùng để đánh bạc thu giữ trên người của Hoàng Văn M1 là 6.870.000 đồng, thu giữ trên người Vừ Chúng Dinh 615.000 đồng và thu giữ trên người Thào Nhè T là 1.690.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 51 quân bài; 01 bàn bida; 16 quả bóng bida; 03 gậy bida bằng gỗ.
Tại Bản kết luận giám định số: 340/KL-KTHS, ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: 66 tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật.
Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 20/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang đã truy tố các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè Thào phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vừ Chúng D1 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 từ 08 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng; căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào Nhè T 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS năm 2015 vì các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có việc làm ổn định, không có tài sản nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 của BLTTHS năm 2015 đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 51 (năm mươi mốt) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 02 (hai) ví da màu nâu, đã qua sử dụng. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 9.375.000 đồng (chín triệu ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng. Trả lại cho bị cáo Vừ Chúng D1 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; màu đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M1 01 (một) Điện thoại di động, nhãn nhiệu itel; Màu sơn: Đen; loại bàn phím, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Thào Nhè T 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; Màu sơn: Đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
Về án phí: Các bị cáo đều thuộc đối tượng được miễn án phí, tại phiên tòa các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo.
Những người bào chữa cho các bị cáo đều khẳng định việc điều tra truy tố xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại bản luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo D1 đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét xử phạt bị cáo với hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo. Các vấn đề khác nhất trí như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo M1 không nhất trí với mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo M1 mà Đại diện Viện kiểm sát đưa ra, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo M1 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, là tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo. Các vấn đề khác nhất trí như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo T nhất trí với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo T.
Các bị cáo đều không bổ sung bào chữa, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt; người bào chữa cho bị cáo M1, T giữ nguyên quan điểm tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và xác nhận đã nhận được tài sản không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Người bào chữa cho bị cáo T đã nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo T do vậy không có tranh luận đối đáp gì thêm; đối với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo D1 đại diện Viện kiểm sát không nhất trí vì bị cáo là người khởi xướng thực hiện hành vi đánh bạc, nên vai trò của bị cáo là quan trọng nhất trong vụ án. Mặt khác bị cáo có nhân thân không tốt đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng bị cáo không lấy đó làm gương mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, do đó đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm. Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo M1 đề nghị xử phạt bị cáo M1 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ là không tương xứng với vai trò của bị cáo trong vụ án, bởi bị cáo M1 là người giúp sức tích cực nhất so với đồng phạm thể hiện ở việc khi được bị cáo D1 rủ đánh bida được thua bằng tiền bị cáo đã chuẩn bị quân bài tú lơ khơ để các bị cáo đánh bạc, bị cáo là người sử dụng số tiền nhiều nhất là 6.070.000đ để tham gia đánh bạc, do vậy việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là tương xứng với tính chất vai trò của bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Do vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.
Người bào chữa cho các bị cáo M1, T giữ nguyên quan điểm không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo đều tỏ ra ăn năn hối cải mong muốn Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung bào chữa của người bào chữa, nghe lời khai của các bị cáo và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có khiếu nại, tố cáo. Do đó, những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do người bào chữa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cung cấp trong quá trình điều tra, truy tố trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Trung K nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm yêu cầu gửi cho Tòa án, vắng mặt người làm chứng Sính Mí D2 không có lý do; xét thấy người làm chứng vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người nêu trên.
- Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/9/2024, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định số: 340/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, phù hợp về thời gian, địa điểm và các thành phần tham gia, đã xác định được: Với động cơ mục đích vụ lợi, khoảng 14 giờ 00 phút 07/9/2024 tại quán bida Anh V1 tại tổ F, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang, Vừ C đã khởi xướng việc đánh bạc được thua bằng tiền cùng Hoàng Văn M1, Thào Nhè T với hình thức đánh bida. Dinh, M1, T cùng nhau đánh bạc đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 9.375.000đ (chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh truy tố và luận tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè Thào phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng vì mục đích vụ lợi kiếm tiền nhanh chóng nên đã cố ý phạm tội, do vậy cần xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự, với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
- Về vai trò hành vi phạm tội: Các bị cáo phạm tội không có tổ chức, chỉ là đồng phạm giản đơn; các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Tổng số tiền các bị cáo dùng đánh bạc bị thu giữ quả tang tại hiện trường là 9.375.000đ (chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), trong đó:
- [5.1] Bị cáo Vừ Chúng D1 là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc bằng hình thức đánh bida được thua bằng tiền. Bị cáo đã sử dụng số tiền 1.015.000₫ (một triệu không trăm mười lăm nghìn đồng) để tham gia đánh bạc nên bị cáo là người giữ vai trò quan trọng nhất của vụ án mặt khác bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc” do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt cao nhất so với các bị cáo khác trong vụ án.
- [5.2] Bị cáo Hoàng Văn M1 là đồng phạm với vai trò là người thực hành trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền 6.070.000₫ (sáu triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng). Mặt khác bị cáo là người gọi chủ quán lấy bộ bài tú lơ khơ nên bị cáo là đồng phạm giúp sức tích cực trong việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng nhưng nhẹ hơn mức hình phạt so với bị cáo D1.
- [5.3] Bị cáo Thào Nhè T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền là 2.290.000₫ (hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), nên bị cáo giữ vai trò đồng phạm trong vụ án và phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình tuy nhiên mức hình phạt thấp hơn bị cáo Hoàng Văn M1.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hoàng Văn M1, Thào Nhè T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Hoàng Văn M1 còn có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có bố được nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba, bản thân bị cáo đang phải nuôi con nhỏ vì vợ đã bỏ đi khỏi địa phương không rõ tung tích theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Các bị cáo Hoàng Văn M1, Thào Nhè T đều có nhân thân tốt, bị cáo Vừ Chúng D1 có nhân thân không tốt, ngày 05/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt và hiện đã được xóa án tích. Bị cáo Vừ Chúng D1 là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc nên cần có mức án nghiêm khắc nhất cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cũng như công tác phòng ngừa tội phạm; đối với bị cáo Hoàng Văn M1 và Thào Nhè T là đồng phạm, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật nhà nước, quy định địa phương nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, tuy nhiên bị cáo Hoàng Văn M1 là đồng phạm giúp sức tích cực nên cần xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 với hình phạt tù cho hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Thào Nhè T với hình phạt cải tạo không giam giữ, giao về địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội thể hiện sự khoan hồng và nghiêm minh của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, đều là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
- Biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự để quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vừ Chúnh D3 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/11/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Vừ Chúng D1, bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 nên được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù; bị cáo Thào Nhè T bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 là 06 (sáu) ngày, quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ tổng là 18 (mười tám) ngày được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.
- Về việc khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Thào Nhè T bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước, tuy nhiên xét thấy bị cáo Thào Nhè T không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, là người thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, do vậy miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng: Bị cáo Thào Nhè T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Trong vụ án này các bị cáo sử dụng địa điểm đánh bạc là ở Quán bida Anh V1 do ông Hoàng Trung K làm chủ, ông K không biết việc các bị cáo đánh bạc, quá trình đánh bạc ông K cũng không thu lợi ích gì trong việc đánh bạc của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với ông Hoàng Trung K.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng của vụ án, cụ thể:
- [15.1] Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 51 (năm mươi mốt) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 02 (hai) ví da màu nâu, đã qua sử dụng.
- [15.2] Cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 9.375.000 đồng (chín triệu ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng do các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi từ việc đánh bạc.
- [15.3] Trả lại cho bị cáo Vừ Chúng D (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; màu đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M1 01 (một) Điện thoại di động, nhãn nhiệu itel; Màu sơn: Đen; loại bàn phím, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Thào Nhè T 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; Màu sơn: Đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng là vật chứng không liên quan đến vụ án.
- [15.4] Đối với một số đồ vật thu giữ trong quá trình điều tra xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên ngày 01/11/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại số tài sản trên cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý vật chứng số 280/QĐ-ĐCSHS-KTMT xử lý bằng hình thức trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp ông Hoàng Trung K là thỏa đáng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Tại phiên tòa các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T đều có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
- Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo Thào Nhè T tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Vừ Chúng D1 đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ; ý kiến của người bào chữa cho bị cáo M1 đề nghị xử phạt bị cáo M1 từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, là không tương xứng với tính chất, vai trò, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, xử phạt bị cáo Vừ Chúng D1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024.
- Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Vừ Chúng D1 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/11/2024 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn M1 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/11/2024.
- Giao bị cáo Hoàng Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Gia đình bị cáo Hoàng Văn M1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng và người được phân công trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thào Nhè T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 07/9/2024 đến ngày 13/9/2024 là 06 (ba) ngày, quy đổi 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ tổng là 18 (mười tám) ngày; bị cáo Thào Nhè T phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai) ngày.
- Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Y, tỉnh Hà Giang nhận được quyết định thi hành án.
- Giao bị cáo Thào Nhè T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang để giám sát, giáo dục; gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Hà Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người chấp hành án vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Thào Nhè T.
- Buộc bị cáo Thào Nhè T phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021.
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) Bộ bài tú lơ khơ gồm 51 (năm mươi mốt) quân bài gồm các chất rô, cơ, bích, tép; 02 (hai) Ví da màu nâu, đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 9.375.000đ (chín triệu ba trăm bảy mươi năm nghìn đồng) tiền Việt Nam đồng do các bị cáo sử dụng để đánh bạc và thu lợi từ việc đánh bạc.
- - Trả lại cho bị cáo Vừ Chúng D1 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; màu đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Hoàng Văn M1 01 (một) Điện thoại di động, nhãn nhiệu itel; Màu sơn: Đen; loại bàn phím, đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Thào Nhè T 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu VIVO; Màu sơn: Đen; loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng.
- (Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh lập ngày 21/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Vừ Chúng D1, Hoàng Văn M1, Thào Nhè T, mỗi bị cáo là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2021, các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
- Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Đạng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Đình Bình Đỗ Thị Án | Hoàng Văn Đạng |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vừ Chúng D và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc"
