Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29 – 11 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tử Lượng.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Chu Văn Kiêm và ông Đinh Mạnh Huy.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Phạm Hữu Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị V sinh năm 1993; nơi đăng ký cư trú: thôn Y, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: Century Peak Tower A, A., cor. Sta. Monica St., E, M, P.
  • Người được chị V ủy quyền nhận văn bản tố tụng: anh Vy Thành C sinh năm 1993; địa chỉ: L, khu đô thị E, xã Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
  • - Bị đơn: anh Lê Văn T sinh năm 1987; địa chỉ: thôn Y, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 5 năm 2024 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình ngày 23/01/2019. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau bình thường. Đến đầu năm 2021 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng khác biệt về quan niệm trong việc nuôi dậy con cái, cũng như có nhiều khác biệt về kinh tế, cuộc sống thường ngày, khiến hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khoảng tháng 9 năm 2021 mâu thuẫn vợ chồng đạt đến đỉnh điểm, chị V đã chuyển đến nhà em gái ở quận S, thành phố Đà Nẵng sinh sống. Thời điểm này, chị V đang mang thai con thứ hai và cũng sinh con tại Đà Nẵng. Đến tháng 3 năm 2022 vì điều kiện công việc, chị V sang Philippines sinh sống và làm việc. Do cuộc sống vợ chồng xa cách, mỗi người một nơi dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh, không được điều hòa, không cách nào giải quyết, dẫn đến tình cảm dần lạnh nhạt. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng nhưng vẫn không tìm được biện pháp giải quyết để hàn gắn, nứu kéo cuộc sống chung. Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lê Văn T để anh chị sớm ổn định cuộc sống riêng.
  • - Về con chung: chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T có hai con chung là Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 và Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021. Cháu Lê Bảo C1 hiện đang sống với anh T tại xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; còn cháu Lê Tuệ M1 từ khi ra đời cho đến nay đều sinh sống cùng em gái chị V là Nguyễn Thị T1 tại tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Khi ly hôn, chị V đề nghị Tòa án giao cháu Lê Bảo C1 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, còn chị V nuôi dưỡng cháu Lê Tuệ M1. Về việc cấp dưỡng nuôi con, chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: chị Nguyễn Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về án phí: chị V chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai ngày 31/10/2024 bị đơn là anh Lê Văn T trình bày: Anh T và chị Nguyễn Thị V sinh ngày 08/12/1993 là vợ chồng, anh chị bắt đầu chung sống với nhau khoảng năm 2017 nhưng không đăng ký kết hôn. Đến ngày 23/01/2019 anh T và chị V mới đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y. Trước khi chung sống, kết hôn với nhau, anh T và chị V đều tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng anh chị chung sống tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Trong quá trình chung sống, chị V thể hiện lối sống không lành mạnh, hay giao du với nhiều người đàn ông khác, không chung thủy, không chăm sóc chồng con. Chị V đã nhiều lần bỏ nhà ra đi có khi cả tuần mới về, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng tháng 11/2021 chị V đã bỏ nhà đi và không quay về chung sống với anh T nữa. Đến nay, anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống nên nhất trí ly hôn với chị V.

Anh T và chị V có 02 con chung: con thứ nhất là Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 hiện nay đang ở với anh T tại xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; con thứ hai là Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021. Khi đang mang thai cháu Tuệ M1 thì chị V bỏ vào Đà Nẵng sinh sống cùng em ruột là Nguyễn Thị T1 và sinh cháu Tuệ M1 ở Đà Nẵng. Từ khi sinh ra cháu Tuệ M1 ở với chị V và anh chị em trong gia đình chị V. Anh T chỉ mới được gặp cháu Tuệ M1 01 lần, đó là khoảng tháng 7, tháng 8 năm 2024 chị V đưa cháu Tuệ M1 về xã K chơi với cháu Bảo C1 và anh T 01 ngày sau đó lại đưa cháu đi luôn. Hiện nay, cháu Tuệ M1 đang ở với ai và ở đâu thì anh không biết. Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng tiếp tục nuôi cháu Lê Bảo C1, còn chị V nuôi cháu Lê Tuệ M1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản làm việc ngày 08/11/2024 Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình cung cấp và xác nhận: anh Lê Văn T hiện đang cư trú và có đăng ký thường trú tại: xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Chị Nguyễn Thị V có đăng ký thường trú tại: xóm D, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, chị V đang làm gì, ở đâu địa phương không nắm được. Anh T và chị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K ngày 23/01/2019. Trong thời gian vợ chồng anh T, chị V sinh sống tại xóm D, xã K, chính quyền địa phương không nhận được thông tin phản ảnh về mâu thuẫn vợ chồng và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cũng như tranh chấp. Anh T và chị V có 02 con chung là cháu Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 hiện nay đang ở với anh T tại xóm D, xã K; cháu Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021 có đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã K; cháu Tuệ M1 đang ở với ai và ở đâu thì Ủy ban không biết. Hiện nay, anh T đang lao động tự do tại xã K; anh T có đủ các điều kiện về sức khỏe, kinh tế và chỗ ở để nuôi dậy con chưa thành niên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28 và các Điều 37, 147, 227, 228, 238, 469, 470, 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58 và các Điều 81, 82, 83, 84, 123, 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  • - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V:
  • + Giải quyết cho chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T ly hôn.
  • + Về con chung: giao cháu Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị V, anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con và đều có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
  • - Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị V đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
  2. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V đang cư trú ở nước ngoài. Bị đơn anh Lê Văn T đang cư trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

    Căn cứ vào Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật tố tụng dân sự, đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

    Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T vắng mặt nhưng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị V và bị đơn anh Lê Văn T.

  1. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân:
    2. chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do đó, quan hệ hôn nhân của chị V và anh T là hợp pháp, được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ.

      Trong thời kỳ hôn nhân, chị V và anh anh T chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không thể khắc phục được. Từ năm 2021 cho đến nay anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau.

      Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị V, anh T là trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đã vi phạm quyền, nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện, giải quyết cho chị V ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

    3. Về con chung:
    4. chị Nguyễn Thị V và anh Lê Văn T có hai con chung là cháu Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 và cháu Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021. Khi ly hôn, chị V có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Lê Tuệ M1, còn anh T có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Bảo C1.

      Xét thấy, chị V và anh T đều không bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của anh, chị là chính đáng. Do đó chấp nhận ý kiến đề nghị, nguyện vọng của chị V và anh T, giao cháu Lê Bảo C1 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Lê Tuệ M1 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

      Chị V và anh T mỗi người được giao nuôi dưỡng một con chung, quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc nuôi con là ngang nhau, không ai yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó trong vụ án này, Tòa án không giải quyết, quyết định về nghĩa vụ đóng góp cho nhau tiền cấp dưỡng nuôi con của các bên.

    5. Về tài sản, nợ chung vợ chồng:
    6. các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

    7. Về án phí sơ thẩm:
    8. chị Nguyễn Thị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án; được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị V đã nộp.

  1. Về quyền kháng cáo:
  2. các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 464, Điều 469, Điều 470, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V cụ thể như sau:
    1. Về quan hệ hôn nhân: giải quyết cho chị Nguyễn Thị V ly hôn với anh Lê Văn T.
    2. Về việc nuôi con: giao cháu Lê Bảo C1 sinh ngày 04/02/2018 cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Giao cháu Lê Tuệ M1 sinh ngày 29/12/2021 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
    3. (Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.)

  2. Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000047 ngày 12/8/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Lê Văn T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng KTNV-THA;
  • - UBND xã Khánh Cư;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tử Lượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger