|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên;
Ông Ngô Văn Thế.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLHS-ST, ngày 29 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Điêu Chính T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 25/11/2001, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Điêu Chính T1, đã chết; mẹ đẻ: Lý Thị T2, sinh năm 1982; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn P, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lù Văn K, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt;
Anh Lò Vệ Q, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ, ngày 06/6/2024, Điêu Chính T điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13, xe Thiều mượn của Lò Văn P, sinh năm 1992, trú cùng bản Nậm Cáy, đi từ nhà lên bản T, xã M, huyện P tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Tà Tê, T mua được 04 gói Heroine gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch, hết 200.000 đồng. Mua được H, T mang về nhà sử dụng hết 02 gói, 02 gói Heroine còn lại, T dùng dao lam chia nhỏ và gói thành 03 gói, sau đó cho vào 01 túi zip rồi cất giấu không cho ai biết.
Khoảng 09 giờ, ngày 08/6/2024, Điêu Chính T đang ở nhà thì Lù Văn K và L Vệ Quốc cùng đến và hỏi mua Heroine của T để sử dụng. K và Q mỗi người lấy 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng đưa cho T. T nhận tiền rồi lấy 02 gói Heroine trong túi quần ra bán cho K và Q. Mua được H, K và Q tự ý lấy mảnh giấy bạc và bật lửa ga màu đỏ có sẵn trong phòng ngủ của T sử dụng hết bằng hình thức hít. Trước khi sử dụng, K và Q không hỏi ý kiến T, T nhìn thấy nhưng không nói gì. Hồi 09 giờ 35 phút, ngày 08/6/2024, tại nhà ở của Điêu Chính T, tại bản Nậm Cáy, xã H, huyện P, khi Lù Văn K và L Vệ Quốc vừa sử dụng trái phép chất ma túy xong thì Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng đã thu giữ gồm: Vật chứng do T tự giao nộp 01 gói Heroine; vật chứng do cơ quan điều tra thu giữ tại nhà của T: 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 con dao lam, 02 mảnh nilon màu đen, 01 bật lửa ga màu đỏ và 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13 kèm đăng ký xe. T khai nhận, 01 gói chất bột màu trắng là Heroine của T mua để sử dụng và bán, số tiền 200.000 đồng là tiền Thiều bán trái phép heroien cho K và Q mà có.
Tại bản Kết luận giám định số: 47/KL-GĐVV, ngày 08/6/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Điêu Chính Thiều có tổng khối lượng là 0,055 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 710/KL-TTHS, ngày 11/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số: 715/K1-TTHS, ngày 10/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: số tiền 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Quá trình điều tra, Điêu Chính T, Lù Văn K, Lý V đều khẳng định 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng là tiền K và Q đưa cho T để mua Heroine.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày lời khai về những tình tiết có liên quan đúng như lời khai của các bị cáo và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nguyện vọng được xin lại chiếc xe máy là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 113/CT-VKS, ngày 29/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Điêu Chính T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Điêu Chính T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điêu Chính T từ 07 (Bảy) năm, 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm, 09 (Chín) tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điêu Chính T từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản là anh Lò Văn P 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13, kèm theo giấy đăng ký xe. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 01 con dao lam; 01 chiếc bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi zip; các mảnh nilon và vỏ gói niêm phong vật chứng. Đối với toàn 0,055 gam Heroine thu giữ trong vụ án đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cấp xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật
Những người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Điêu Chính T đã thực hiện:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 09 giờ, ngày 08/6/2024, tại nhà ở thuộc quyền quản lý hợp pháp của Điêu Chính Thiều thuộc bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, Điêu Chính T đã cùng mọt lúc thực hiện hành vi bán trái phép H cho 02 người là Lù Văn K và Lò Vệ Q lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Sau khi bán Heroine, T để mặc cho K và Q sử dụng hết số Heroine mua được ngay tại nhà của T. Ngoài ra, Điêu Chính Thiều còn tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,055 gam, mục đích Thiều tàng trữ để sử dụng và bán. Hồi 09 giờ 35 phút, cùng ngày 08/6/2024, tại nhà ở của T, khi K, Q vừa sử dụng trái phép Heroine xong thì bị Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Những tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo, bị cáo khai không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể của người này, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở điều tra xử lý người bán Heroine cho bị cáo trong vụ án này.
Đối với Lù Văn K và Lò Vệ Q có hành vi mua ma túy của T để sử dụng. K và Q đã sử dụng hết số Heroine mua được, do vậy Công an huyện P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K và Q theo đúng quy định pháp luật.
Đối với Lò Văn P cho Điêu Chính T mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13, do P không biết T sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua Heroine nên P không đồng phạm với T trong vụ án này.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm hai tội nên Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 200.000 đồng, là tiền do bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Lò Văn P. Do anh P không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua Heroine, anh P có nguyện vọng được xin lại chiếc xe nên cần trả lại xe cho anh P. Các vật chứng còn lại, gồm: 01 con dao lam; 01 chiếc bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi zip; các mảnh nilon và các vỏ niêm phong vật chứng, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,055 gam Heroine thu của bị cáo được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Bị cáo Điêu Chính T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
-
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điêu Chính T: 07 (Bảy) năm, 03 (Ba) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Điêu Chính T: 02 (Hai) năm tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt: 09 (Chín) năm, 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/6/2024.
-
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao lam; các mảnh nilon; 01 chiếc bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; các phong bì niêm phong vật chứng.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lò Văn P: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-469.13, kèm theo giấy đăng ký xe.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 00 phút, ngày 30/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
-
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC mua bán trái phép CMT
