TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-PT Ngày 28/11/2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Hằng
Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Cường
Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 16/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2024/QĐPT –HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số: 116/2024/TB-TA ngày 13/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị H, sinh năm 1972; nơi thường trú: số B, Đ, khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Văng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: ông Bùi Văn P, sinh năm 1964; nơi ĐKTT: số B, Đào Phúc L, khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: chung cư L, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Bùi Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày: bà H và ông Bùi Văn P kết hôn với nhau vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh, tuy nhiên do bị mất giấy đăng ký kết hôn nên đăng ký kết hôn lại vào ngày 11/5/2011. Quá trình chung sống với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và không còn sự tin tưởng lẫn nhau; thường xuyên xảy ra cãi vã, có lúc còn xảy ra xô sát lớn (ông P có hành vi bạo lực đối với bà H). Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đã ly thân từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Bà H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông P.
- Về con chung: bà H và ông P có hai con chung là Bùi Bích H1, sinh ngày 29/6/1990 và Bùi Anh K, sinh ngày 20/7/2006. Các con chung đều đã thành niên, không bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: bà H có quan điểm tự thỏa thuận giải quyết với ông P, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung, bà H xác định không có.
* Trong quá trình tố tụng bị đơn ông Bùi Văn P trình bày: về tình cảm, quá trình đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng giữa ông P và bà H như bà H trình bày là đúng. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng mới phát sinh từ năm 2019, nguyên nhân chính do bà H nhiều lần ngoại tình với nhiều người đàn ông khác, vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2023 đến nay. Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly với ông P, ông P không chấp nhận vì ông P vẫn còn yêu thương vợ.
- Về con chung, đúng như bà H trình bày.
- Về tài sản chung: ông P trình bày, ông và bà H có một số tài sản chung, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ:
Tại Biên bản xác minh ngày 15/7/2024, bà Đặng Thị M là Khu T, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh cung cấp thông tin: vợ chồng ông Bùi Văn P và bà Phạm Thị H cư trú tại địa phương. Về nguyên nhân vợ chồng ông P và bà H mâu thuẫn, địa phương không nắm được vì họ không báo chính quyền hòa gải. Tuy nhiên, thấy ông P và bà H hiện đã ly thân nhau từ năm 2023, hiện nay chỉ còn bà H sinh sống tại đại phương. Đối với việc bà H có đơn xin ly hôn ông P đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.
Với nội dung trên, Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 16/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 225; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về tình cảm: chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phạm Thị H.
Xử bà Phạm Thị H được ly hôn ông Bùi Văn P.
Ngoài ra, còn quyết định về án phí và về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 18/9/2024, bị đơn ông Bùi Văn P kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phạm Thị H. Lý do kháng cáo: ông P không đồng ý ly hôn với bà H, bà H yêu cầu ly hôn là do ý kiến cá nhân của bà H. Nhận định của Hội đồng xét xử về việc ông P có hành vi bạo lực với bà H và kết luận ông P không còn tình cảm với bà H đều là không có căn cứ; ông P vẫn cần có gia đình, yêu thương vợ con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông Bùi Văn P giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Bị đơn ông Bùi Văn P trình bày nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo: về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bà H có quan hệ với nhiều người dẫn đến hết tình cảm với tôi, tôi không có hành vi bạo lực với bà H. Tôi không gặp được bà H, bà H không nghe điện thoại của tôi, tôi chỉ nhờ người nhà và người thân khuyên bảo bà H để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Tôi vẫn cần có gia đình, yêu thương vợ con nên tôi không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của tôi.
- Bị đơn ông Bùi Văn P, Kiểm sát viên đều không xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập trong giai đoạn sơ thẩm và kết quả làm rõ tại phiên toà hôm nay xác định, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H là có căn cứ, kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P là không có căn cứ để chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận cáo của ông Bùi Văn P, giữ nguyên Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 16/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P làm trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
Đối với nguyên đơn bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Phạm Thị H và ông Bùi Văn P tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1989. Do bị mất giấy đăng ký kết hôn (theo bà H và ông P trình bày) nên bà H và ông P đã đăng ký kết hôn lại vào ngày 11/5/2011. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019, thì phát sinh mâu thuẫn.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: theo bà H trình bày do hai người không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và không còn sự tin tưởng lẫn nhau; thường xuyên xảy ra cãi vã, có lúc còn xảy ra xô sát lớn (ông P có hành vi bạo lực đối với bà H); đã ly thân từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Ông P thừa nhận tình trạng hôn nhân như bà P trình bày nhưng trình bày nguyên nhân chính là do bà H nhiều lần ngoại tình với nhiều người đàn ông khác, không thừa nhận có hành vi bạo lực gia đình đối với bà H.
Bà H xác định không còn tình cảm với ông P, không có khả năng hàn gắn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn ông P; ông P không đồng ý ly hôn với bà H với lý do ông P còn yêu thương vợ, con.
Tại biên bản xác minh ngày 15/7/2024, bà Đặng Thị M là người đại diện khu phố nơi bà H và ông P cư trú cung cấp thông tin: vợ chồng ông Bùi Văn P và bà Phạm Thị H sinh sống tại địa phương. Về nguyên nhân vợ chồng ông P và bà H mâu thuẫn địa phương không nắm được vì họ không báo chính quyền hòa gải. Tuy nhiên, thấy ông P và bà H đã ly thân nhau từ năm 2023, hiện nay chỉ còn bà H sinh sống tại địa phương.
Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy bà H và ông P trình bày về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là không thống nhất với nhau, đại diện khu phố nơi bà H và ông P cũng không biết về nguyên nhân bà H và ông P phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên có căn cứ xác định do vợ chồng mâu thuẫn nên bà H và ông P đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Ông P không đồng ý yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H, cho rằng vẫn còn yêu thương vợ con nhưng không có và không đưa ra được biện pháp tích cực để khắc phục mâu thuẫn, cũng xác định đã sống ly thân với bà H từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan hệ gì với nhau nữa. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông P.
Từ nhận định nêu trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H đối với ông P là có căn cứ, kháng cáo của ông P là không có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn P không được chấp nhận. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông P phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm. Tuy nhiên, ông P là người cao tuổi, có đề nghị miễn án phí, nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm đối với ông P.
[4] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Văn P. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 16/2024/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm đối với ông Bùi Văn P. Trả lại ông P 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003215 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Các quyết định khác của Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thuý Hằng |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H - Bùi Văn P
