|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 28-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vàng A Kỷ.
2. Ông Triệu Phúc Vượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Sùng A P; sinh ngày 07/02/1996 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu. Nơi tạm trú: Nhà trọ ông Trịnh Văn T, sinh năm 1965, thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sùng A D (đã chết) và con bà: Lầu Thị V (đã chết); vợ: Lầu Thị S, sinh năm 1996; con: có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không;
Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 694/2018/HSST ngày 16/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt Sùng A P 05 năm tù về tội “Mua bán người”. Đến ngày 26/01/2022, Sùng A P chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Hiện Sùng A P đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Giàng A S1, sinh ngày 15/5/1994 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A C, sinh năm 1976 và con bà: Vàng Thị S2, sinh năm 1977; vợ: Má Thị M, sinh năm 1997; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Hầu A T1, sinh ngày 24/3/2004 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, thị trấn T, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hầu A K, sinh năm 1979 và con bà: Vàng Thị C1, sinh năm 1987; vợ: Sùng Thị S3, sinh năm 2004; con: có 02 con, con sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Sùng A N, sinh ngày 01/01/1995 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sùng A S4, sinh năm 1963 và con bà: Hàng Thị D1, sinh năm 1964; vợ: Ma Thị H, sinh năm 1999; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Hàng A P1, sinh ngày 01/4/2000 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hàng A S5 (đã chết) và con bà: Giàng Thị S6, sinh năm 1976; vợ: Sùng Thị L, sinh năm 2004; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Hàng A V1, sinh ngày 25/10/1998 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hàng A S7, sinh năm 1971 và con bà: Giàng Thị A, sinh năm 1972; vợ: Sừn Thị H1, sinh năm 2004; con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Sùng A U, sinh ngày 06/10/1996 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sùng A M1, sinh năm 1970 và con bà: Giàng Thị S8 (đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 đến ngày 28/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Hàng A C2, sinh ngày 05/3/1993 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hàng A S9 (đã chết) và con bà: Thào Thị D2, sinh năm 1974; vợ: Lù Thị X, sinh năm 1997; con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ từ ngày 30/6/2024, tạm giam từ ngày 09/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Hàng A N1, sinh năm 1996 (có mặt).
- Anh Sùng A D3, sinh năm 2001 (vắng mặt).
Đều trú tại: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ma Thị H, sinh năm 1999 (có mặt).
- Chị Má Thị M, sinh năm 1997 (có mặt).
- Chị Lầu Thị S, sinh năm 1996 (vắng mặt).
Đều trú tại: Bản H, xã P, huyện T, Lai Châu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ sáng ngày 30/6/2024, sau khi cùng ngủ dậy tại nhà ông Sùng A C3, Sùng A P đã rủ Hầu A T1 đi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, T1 đồng ý. Sau đó, T1 bảo P đợi để T1 điều khiển xe mô tô đưa vợ, con của T1 về bản H, thị trấn T trước rồi mới đi đánh bài.
Khoảng 30 phút sau, khi P đang đợi Thào thì Sùng A N nhắn tin qua Messenger của ứng dụng Facebook rủ P đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, P đồng ý và hẹn ra nhà Hàng A1 ở bản H, xã P để đánh bạc. Tuy nhiên, N có việc nên chưa đi đánh bạc ngay như đã hẹn. Sau khi nhắn tin với Nử xong, P tiếp tục nhắn tin, gọi điện thoại cho Sùng A U, rủ U đi đánh bạc, U đồng ý và P bảo U tiện đường đi đón T1 ở bản H, thị trấn T ra nhà H để đánh bạc. Đồng thời P cũng nhắn tin qua ứng dụng Mesenger của ứng dụng Facebook cho Hàng A P1 rủ P1 ra nhà Hàng A1 đánh bạc, P1 đồng ý.
Sau khi nhận được điện thoại của P rủ đi đánh bạc thì Sùng A U cũng gọi điện cho P1 rủ P1 ra uống rượu, đánh bạc tại nhà của Hàng A C2, rồi U điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave &, màu sơn T2-Đen-Bạc, biển kiểm soát 25U1-059.31 xuống ngã ba Tổ dân phố E đón T1 lên nhà Hàng A1 để đánh bạc. Trên đường chở T1 đến nhà Hàng A1, T1 bảo U dừng xe ở một quán tạp hóa để T1 vào mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây rồi tiếp tục cùng U đi đến nhà H như đã hẹn. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, P điều khiển xe xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại Exciter, màu sơn T2-Đỏ-Đen, biển số 90B2-770.81 từ nhà đến nhà Hàng A1; P1 đi bộ sang nhà C2.
Đến khoảng hơn 10 giờ sáng cùng ngày, có 04 người gồm Sùng A P, Hàng A P1, Hầu A T1 và Sùng A U đều di chuyển đến nhà và gặp Hàng A C2 để uống rượu và đánh bạc trái phép. Khi đến nhà C2 thì cả 04 người cùng rủ nhau ngồi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng” trên chiếc bàn gỗ kê đối diện cửa chính của nhà C2. Sau đó, T1 lấy ra bộ bài tú lơ khơ 52 lá vừa mua được để mọi người cùng nhau đánh bạc. Lúc này cả nhóm xin Hàng A C2 (chủ nhà) cho mọi người ngồi đánh bạc tại nhà C2, C2 đồng ý rồi C2 lên giường nằm. Lúc chơi ban đầu cả nhóm thống nhất mỗi người đóng 10.000 đồng/người/ván gọi là đóng gà, có lúc tăng lên 20.000 đồng/01 lần đóng gà, bài ai to điểm nhất sẽ thắng và được lấy tiền gà theo luật chơi Liêng. Ngồi một lúc thì Hàng A P1 có nhắn tin, gọi điện rủ Giàng A S1 đến nhà C2 để uống rượu và đánh bạc nhưng do đang bận một số việc riêng nên S1 đã không đến ngay. Nhóm 04 người gồm (Phàng, P, U, T1) ngồi đánh bạc được khoảng 3-4 ván thì tất cả thống nhất lấy một phần trong số tiền đóng gà chung đưa cho C2 để nhờ C2 đi mua rượu và thức ăn cho mọi người. Sau khi thống nhất, P đã lấy số tiền gà trong chiếu bạc ra 80.000 đồng đưa cho Hàng A C2 đi chợ mua thức ăn và rượu đem về nấu để C2 cùng mọi người ăn, uống. Sau khi nấu xong C2 và mọi người ngồi ăn, uống rượu trên 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh do C2 vừa chải trên nền nhà.
Sau khi ngồi ăn uống cùng mọi xong thì C2 đi ra ngoài mua thóc và mua điện thoại ở xã B, huyện T còn P, P, U, T1 tiếp tục ngồi đánh bạc tại nhà C2. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, trong lúc C2 đi ra khỏi nhà, có Hàng A N1 là người cùng bản đến nhà C2 chơi, lúc này thấy thức ăn đã hết nên P lấy tiền trong chiếu bạc ra đưa cho N1 90.000 đồng để nhờ N1 tiếp tục đi mua thức ăn về cho cả nhóm cùng ăn, N1 đồng ý. Nấu xong, N1 và cả nhóm đang ăn thì có Sùng A N và Giàng A S1 cũng đến nhà C2 rồi cùng ngồi ăn, uống với cả nhóm. Cả nhóm ngồi ăn uống được một lúc thì C2 đi về và gặp mọi người. Lúc này N1 có việc nên về trước. Tại nhà Chơ lúc này có 06 người gồm (Phàng, P, U, T1, S1, N) rủ nhau đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng”, tất cả đồng ý rồi ngồi lên bộ bàn ghế trong nhà C2 để đánh bài, C2 biết và đồng ý.
Đánh bạc được một lúc thì Sùng A N hết tiền nên bỏ về nhà để ăn cơm, còn Sùng A U cũng hết tiền nên không chơi nữa (U còn 400.000 đồng trong ví nhưng không bỏ ra đánh bạc, U khai đó là tiền để mua thuốc). Trước khi nghỉ chơi U có xin Thào được 20.000 đồng và tiếp tục ngồi xem. Còn N thì sau khi về nhà ăn cơm xong lại quay xuống nhà C2 để ngồi xem đánh bạc.
Đến khoảng 20 giờ cùng ngày có Hàng A V1 và Sùng A D3 cũng đến nhà C2 để xem đánh bạc. Vừ ngồi xem được một lúc thì có hỏi vay được của C2 500.000 đồng, thấy vậy N cũng hỏi vay được của C2 500.000 đồng. Do có quan hệ họ hàng và quen biết nên C2 đồng ý cho V1, N vay và không tính lãi. Sau khi vay được tiền V1, N cùng tham gia đánh bạc với nhóm ngồi trên bàn gồm: Phàng, P, T1, S1.
Quá trình đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền cả nhóm gồm P, S1, T1, N, P1, V1, U thống nhất luật chơi Liêng cụ thể như sau: cả nhóm sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá. Sau khi ván bài bắt đầu, mỗi người sẽ nhận được 3 lá bài tương đương với từng số điểm riêng và buộc phải giữ bí mật. Sau đó, người chơi sẽ có 03 sự lựa chọn như sau: Úp bài: Trong trường hợp bài của mình quá yếu, không có cơ hội thắng. Người chơi lựa chọn úp bài và đương nhiên sẽ mất số tiền cược ban đầu và kết thúc ván bài. Theo: Đặt số tiền cược bằng với người cửa trên đặt. Một khi theo bạn sẽ phải chấp nhận có thể vừa mất tiền cược vừa mất tiền theo, ngược lại khi thắng thì sẽ được cả hai. Tố: Đặt cược thêm tiền cao hơn so với số tiền của người cửa trên đặt. Sau khi tất cả đã lựa chọn xong, bộ bài của người nào mang giá trị cao nhất thì người đó thắng cuộc. Các bộ bài được tính từ lớn đến nhỏ trong luật chơi liêng như sau: Sáp: Là bộ bài có ba lá giống nhau. Ví dụ: ba lá 2 thì gọi là Sáp 2. Nếu như người chơi đều có Sáp thì tính ai có Sáp cao hơn sẽ thắng. Thứ tự tăng dần từ 2 đến A. Liêng: Là bộ bài có ba lá liên tiếp nhau. Ví dụ: 4, 5, 6. Liêng nhỏ nhất là A, 2, 3 và Liêng cao nhất là Q, K, A. Khi hai người cùng có L1 thì ai Liêng cao hơn sẽ thắng. Trong trường hợp Liêng giống nhau thì phân thắng thua bằng lá bài có chất cao nhất theo thứ tự từ lớn đến nhỏ là R, C4, T3, B. Ảnh: Là bộ bài có cả ba lá bài đều đầu người J, Q, K. Nếu cả hai người đều có Ảnh thì người chơi phải so sánh chất cao nhất trong bài. Điểm: Đây là cách tính lá cơ bản nhất nếu bài không có Sáp, L1, Ảnh. Lấy tổng số điểm của ba lá chia cho 10, số dư sau khi chia sẽ là điểm của người chơi. Điểm của các lá bài số giữ nguyên còn 10, J, Q, K đều tính là 0 điểm. Nếu cùng điểm thì so sánh lá bài có chất cao nhất, cùng chất thì so sánh lá. Người thắng ván trước sẽ được chia bài để người khác cùng tham gia đánh bạc ván sau. Cả nhóm thống nhất cách tính tiền liêng như sau: Lúc chơi mỗi người đóng 20.000 đồng/01 ván gọi là đóng gà, có lúc giảm xuống 10.000 đồng/01 ván đóng gà, bài ai to điểm nhất sẽ thắng. Mỗi ván chơi không giới hạn số lần tố, mỗi lần tố không quá số tiền 400.000 đồng.
Khi vào tham gia đánh bạc P dùng số tiền 505.000 đồng để đánh bạc; S1 dùng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc; T1 dùng số tiền 2.501.000 đồng để đánh bạc; N dùng số tiền 550.000 đồng để đánh bạc; P1 dùng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc; V1 dùng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc; U dùng số tiền 270.000 đồng để đánh bạc.
Sùng A D3 ngồi xem mọi người đánh bạc một lúc thì D3 rủ Sùng A U và Hàng A C2 đánh bạc ăn tiền bằng hình thức “chơi Phỏm” tại trên chiếc chiếu nhựa trải dưới nền nhà, nơi trước đó cả nhóm dùng để ăn uống. Chơi phỏm được một lúc thì U, D3, C2 đổi sang đánh bạc dưới hình thức đánh L1, cả nhóm thống nhất chơi theo luật chơi L1 nhưng mỗi người chỉ được đóng 10.000 đồng/ván và không “chơi tố” nâng số tiền lên, ai cao điểm nhất thì thắng. Khi vào tham gia đánh bạc C2 dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc; D3 dùng số tiền 169.000 đồng để đánh bạc; U dùng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc.
Cả 02 nhóm chơi thành 02 chiếu bạc tại nhà của Hàng A C2 đến 22 giờ 54 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Đánh bạc” trên 02 chiếu bạc khác nhau trong nhà Hàng A1. Quá trình bắt quả tang các đối tượng bỏ chạy và ném quân bài, tiền tại nhiều vị trí trong nhà và ngay sau đó bị lực lượng Công an khống chế, bắt giữ.
* Vật chứng vụ án:
- Vật chứng thu giữ trong quá trình bắt quả tang tổng số tiền 27.076.0000 đồng. Trong đó: Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất tổng số tiền là: 20.216.000 đồng, trong đó: Số tiền thu trên mặt bàn (chiếu bạc) là 1.400.000 đồng; Số tiền thu trên người, ví của các đối tượng là 18.816.000 đồng (thu của Phàng 3,510.000 đồng; thu của Thào 5.501.000 đồng; thu của S1 8.500.000 đồng; thu của V1 200.000 đồng; thu của 1.105.000 đồng) trong đó có 6.816.000 đồng quá trình điều tra chứng minh được là số tiền đã dùng và sẽ dùng để đánh bạc (Thào 5.501.000 đồng; Phồ 1.105.0000 đồng; Vừ 200.000 đồng; Phàng 10.000 đồng); Thu giữ 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu xanh, gồm 52 lá bài. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc thứ hai gồm: Tổng số tiền 5.390.000 đồng. Trong đó số tiền đánh bạc thu trên chiếu bạc là 489.000 đồng; Số tiền thu trong ví của Hàng A C2 là 4.501.000 đồng; thu trong ví da của Sùng A U số tiền 400.000 đồng; 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu đỏ, gồm 52 lá bài; 01 chiếu nhựa màu xanh cũ đã qua sử dụng có kích thước (1,15x1,8m).
- Thu giữ số tiền 1.470.000 đồng phía bên dưới chiếc chiếu nhựa màu xanh nơi (Sùng A D3; H, Sùng A U) đang ngồi đánh bạc.
- Thu giữ 07 điện thoại di động gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen; Số IMEI1: 359215075035890; điện thoại đã bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng (Hàng A V1 giao nộp khi bắt quả tang); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21Y, màu xanh; Số IMEI1: 866914054521393; Số IMEI2: 866914054521385; đã qua sử dụng (Hàng A C2 giao nộp khi bắt quả tang); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh; Số IMEI1: 358475775145891; Số IMEI2: 359111895145896, đã qua sử dụng (Sùng A P giao nộp khi bắt quả tang). 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng; Số IMEI1: 355736075717553; SỐ IMEI 2: 35573607571755, đã qua sử dụng (Hàng A P1 giao nộp khi bắt quả tang). 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màu đen; Số IMEI1: 865579063535352; Số IMEI2: 865579063535345; đã qua sử dụng (Giàng A S1 giao nộp khi bắt quả tang). 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme V50, màu xanh; Số IMEI1: 867372078043911; Số IMEI2: 767372078043903; đã qua sử dụng (Sùng A U giao nộp khi bắt quả tang). 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu trắng, số IMEI: 356117095904308, đã qua sử dụng (do Ma Thị H là vợ của Sùng A N tự nguyện giao nộp).
- Thu giữ 04 xe mô tô gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu sơn: Xanh đen, biển số: 25B1-599.33, số máy: JA36E0736882, số khung: 3648KY004900 (Sùng A Nử tự nguyện giao nộp sau khi bị bắt). 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Xanh đen bạc, biển số: 25N1-035.04; số khung: RLHJA3922NY164351; số máy: JA39E2661293 (Giàng A Sử tự nguyện giao nộp sau khi bị bắt). 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Trắng đen bạc, biển số: 25U1-059.31, số máy: JA39E2643966, số khung: RLHJA3928NY148137 (Sùng A U tự nguyện giao nộp sau khi bị bắt). 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn: Trắng đỏ đen, biển số: 90B2-770.81, số máy: G3D4E758003, số khung: 0610JY729062 (Sùng A Phồ tự nguyện giao nộp sau khi bị bắt).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã gửi giám định số tiền 27.076.0000 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) thu giữ khi bắt quả tang các đối tượng. Tại bản Kết luận giám định số: 938/KL-KTHS ngày 20/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 27.076.0000 đồng (Hai mươi bảy triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) gửi đến giám định là tiền thật.
Bản Cáo trạng số 89/CT -VKS - TU, ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử các bị cáo Sùng A P, Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hàng A C2 về tội “Gá bạc”, theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố về tội danh đối với các bị cáo Sùng A P, Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Hàng A C2 đại diện Viện Kiểm Sát kết luận và truy tố Hàng A C2 cùng đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và đề nghị về trách nhiệm hình sự, cụ thể:
* Về hình phạt chính:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Sùng A P từ 07 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2024.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Hầu A T1 từ 20 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt Giàng A S1, Hàng A C2 mỗi bị cáo từ 18 tháng đến 20 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1 mỗi bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Sùng A U từ 12 tháng đến 16 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tuyên:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.175.000 đồng là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và 05 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo (01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh của Sùng A P. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng của Hàng A P1. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màu đen của Giàng A S1. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme V50, màu xanh của Sùng A U. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu trắng của Sùng A N).
- - Trả lại cho các bị cáo: Giàng A Sử số tiền 8.500.000 đồng; Hàng A P1 số tiền 3.500.000 đồng; Hàng A C2 số tiền 4.501.000 đồng; Sùng A U số tiền 400.000 đồng.
- - Trả lại cho các bị cáo: Sùng A Phồ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn: Trắng đỏ đen, biển số: 90B2-770.81; Sùng A U: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Trắng đen bạc, biển số: 25U1-059.31; Giàng A Sử: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Xanh đen bạc, biển số: 25N1-035.04; Sùng A Nử: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu sơn: Xanh đen, biển số: 25B1-599.33.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu xanh, gồm 52 lá bài. 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu đỏ, gồm 52 lá bài; 01 chiếu nhựa màu xanh cũ đã qua sử dụng có kích thước (1,15x1,8m).
- - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu A T1 và buộc các bị cáo còn lại phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các bị cáo đều đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo Hàng A C2 đồng ý với nội dung Viện kiểm sát kết luận truy tố bị cáo tại phiên tòa về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS không có tranh luận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ma Thị H và Má Thị M đều trình bày xe mô tô bị thu giữ là tài sản chung của vợ chồng, đề nghị HĐXX xem xét trả lại xe mô tô cho gia đình các bị cáo.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Tất cả các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận và đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 30/6/2024, các bị cáo Sùng A P, Hàng A P1, Hầu A T1, Sùng A U sau khi đến tại nhà ở của H, thuộc bản H, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu đã xin phép Hàng A C2 cho các bị cáo đánh bạc tại nhà của C2 và được Hàng A C2 nhất trí. Trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 22 giờ 45 phút ngày 30/6/2024, tại nhà Hàng A1 các bị cáo Sùng A P, Hàng A P1, Hầu A T1, Sùng A U đã cùng Giàng A S1, Sùng A N, Hàng A V1 có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền Việt Nam đồng dưới hình thức đánh “Liêng” tại chiếu bạc thứ nhất với tổng số tiền dùng đánh bạc là 9.686.000 đồng. Cũng trong khoảng thời gian này tại nhà của C2, bị cáo Hàng A C2, bị cáo Sùng A U cùng anh Sùng A D3 đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền Việt Nam đồng tại chiếu bạc thứ hai dưới hình thức đánh “Liêng” với tổng số tiền 489.000 đồng thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền của cả hai chiếu bạc là 10.175.000 đồng.
Các bị cáo đều là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn kiếm tiền bằng nguồn thu nhập bất chính mà các bị cáo P, T1, P1, N, S1, U, V1 đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, riêng bị cáo Hàng A C2 tuy không có hành vi tổ chức đánh bạc hay cho sử dụng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để cho các bị cáo khác đánh bạc để hưởng lợi, tuy nhiên bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 300.000 đồng và giúp sức cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm. Hành vi của các bị cáo Sùng A P, Hầu A T1, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A V1, Hàng A C2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố và kết luận truy tố tại phiên tòa của VKS Tân Uyên đề nghị xét xử đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo Sùng A P có nhân thân xấu, bị cáo P đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán người”, tuy bị cáo đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy trong quá trình lượng hình cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa tất cả các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Hầu A T1, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A V1, Hàng A C2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong vụ án này giữa các bị cáo không có sự tổ chức phân công, không có người cầm đầu, đều là người thực hành, bị cáo Sùng A P là người rủ rê các bị cáo T1, U, Phàng đánh bạc nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính. Các bị cáo Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U cùng tham gia đánh bạc giữ vai trò đồng phạm là người thực hành tích cực, bị cáo Hàng A C2 là người giúp sức, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Đối với các bị cáo Hầu A T1, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A V1, Hàng A C2: Xét thấy các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt; có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này thì các bị cáo đều chấp hành tốt quy định của pháp luật, có khả năng tự cải tạo được nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ cũng đã đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với các bị cáo và công tác đấu tranh, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Do vậy quan điểm đề nghị về phần tội danh và hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đối với các bị cáo tại phiên tòa là có cơ sở cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều làm ruộng hoặc làm lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Hầu A T1, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A V1, Hàng A C2.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra:
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21Y, màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen không liên quan đến việc đánh bạc nên ngày 26/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 02 chiếc điện thoại di động trên cho Hàng A C2 và Hàng A V1 là đúng quy định.
- + Đối với 05 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo (01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22, màu xanh của Sùng A P. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu hồng của Hàng A P1. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K, màu đen của Giàng A S1. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme V50, màu xanh của Sùng A U. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu trắng của Sùng A N) được các bị cáo sử dụng để nhắn tin, gọi điện rủ nhau thực hiện hành vi đánh bạc do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- + Đối với số tiền 10.175.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- + Đối với 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu xanh, gồm 52 lá bài. 01 bộ bài (T4 lơ khơ) mặt lưng màu đỏ, gồm 52 lá bài; 01 chiếu nhựa màu xanh cũ đã qua sử dụng có kích thước (1,15x1,8m) là vật chứng dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- + Đối với 04 chiếc xe mô tô thu giữ của các bị cáo Sùng A P (01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn: Trắng đỏ đen, biển số: 90B2-770.81), Sùng A U (01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Trắng đen bạc, biển số: 25U1-059.31), Giàng A S1 (01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave &, màu sơn: Xanh đen bạc, biển số: 25N1-035.04) và Sùng A N (01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu sơn: Xanh đen, biển số: 25B1-599.33), quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng những chiếc xe trên với mục đích cầm cố, bán lấy tiền để phục vụ việc đánh bạc, do đó cần xem xét trả lại xe mô tô cho các bị cáo.
- + Về vật chứng là số tiền thu giữ trong ví các bị cáo trong quá trình điều tra: Bị cáo Giàng A S1 số tiền 8.500.000 đồng; Hàng A P1 số tiền 3.500.000 đồng; Hàng A C2 số tiền 4.501.000 đồng; Sùng A U số tiền 400.000 đồng. Quá trình điều tra xác định số tiền trên các bị cáo không sử dụng nhằm mục đích đánh bạc, do vậy Hội đồng xét xử xem xét trả lại số tiền trên cho các bị cáo.
[6] Về án phí: Các bị cáo Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A V1, Hàng A C2, Sùng A P bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định. Bị cáo Hầu A T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo xin được miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu A T1.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về các hành vi, đối tượng liên quan trong vụ án:
- - Đối với Sùng A D3 đã có hành vi Đánh bạc trái phép cùng Sùng A U và Hàng A C2 dưới hình thức đánh P2, L1 vào ngày 30/6/2024 tại nhà của Hàng A C2 với số tiền 489.000 đồng. Quá trình điều tra xác định Sùng A D3 chưa có tiền án, tiền sự và số tiền đánh bạc chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại điều 321 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cơ quan CSĐT, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Sùng A D3 về hành vi đánh bạc là đúng quy định.
- - Đối với Hàng A N1: Quá trình điều tra xác định, N1 đi sang nhà C chơi thì thấy các bị can đang đánh bạc thì chỉ đứng xem, không tham gia đánh bạc, khi được nhờ N1 cũng chỉ đi mua hộ đồ ăn, uống cho các bị can mà không được hưởng lợi ích gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý đối với Hàng A N1 là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng và tội danh: Tuyên bố các bị cáo Sùng A P, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hầu A T1, Hàng A V1 và Hàng A C2 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sùng A P. Xử phạt bị cáo Sùng A P 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2024.
-
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U, Hàng A C2.
- + Xử phạt bị cáo Hầu A T1 20 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Giàng A S1 18 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 12 tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Hàng A C2 18 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 152 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/11/2024), quy đổi ra thời gian 15 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 02 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Sùng A N 16 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Hàng A P1 16 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Hàng A V1 16 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 10 tháng cải tạo không giam giữ.
- + Xử phạt bị cáo Sùng A U 14 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 60 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 30/6/2024 đến ngày 28/8/2024), quy đổi ra thời gian 06 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U, Hàng A C2 được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Giàng A S1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U, Hàng A C2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Giao bị cáo Hầu A T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người chấp hành án đi khỏi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Giàng A S1, Hầu A T1, Sùng A N, Hàng A P1, Hàng A V1, Sùng A U, Hàng A C2. Trường hợp các bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 10.175.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu xanh; số IME11: 358475775145891, số IMEI2: 359111895145896, đã qua sử dụng (điện thoai bị vỡ cạnh trái mặt kính phía sau); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số IMEI 1: 355736075717553; số IMEI 2: 35573607571755, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17K màu đen, số IMEI 1: 865579063535352, số IMEI 2: 865579063535345, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme V50 màu xanh, số IMEI 1: 867372078043911; số IMEI 2: 767372078043903; đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus màu trắng, số IMEI 356117095904308, đã qua sử dụng (điện thoại bị vỡ mặt kính phía sau).
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài “T4 lơ khơ” mặt lưng màu xanh, gồm 52 lá bài, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài “T4 lơ khơ” mặt lưng màu đỏ, gồm 52 lá bài, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh có kích thước (1,15m x 1,8m), đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo: Giàng A S1 số tiền 8.500.000 đồng; Trả lại cho bị cáo: Hàng A P1 số tiền 3.500.000 đồng; Trả lại cho bị cáo: Hàng A C2 số tiền 4.501.000 đồng; Trả lại cho bị cáo: Sùng A U số tiền 400.000 đồng.
- - Trả lại cho bị cáo Sùng A N: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu sơn xanh-đen, biển kiểm soát 25B1-099.33; số máy JA36E0736882, số khung 3648KY004900, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Giàng A S1: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 25N1-035.04, số khung RLHJA3922NY164351, số máy JA39E2661293, đa qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Sùng A U: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 25U1-059.31, số máy JA39E2643966, số khung RLHJA3928NY148137, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Sùng A P: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu sơn trắng đỏ đen, biển kiểm soát 90B2-770.81, số máy G3D4E758003; số khung 0610JY729062, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 25 phút, ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Sùng A P, Hàng A P1, Sùng A N, Giàng A S1, Sùng A U, Hàng A C2 và Hàng A V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hầu A T1.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS
