Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Nhật Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương
Ông Nguyễn Quang Chỉnh

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Đông - Kiểm sát viên;

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 05/11/2024, đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn T, sinh ngày 03/02/2003 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: phố Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân H và bà Tô Thị M; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.
  2. Nông Đình T1, sinh ngày 13/3/2002, tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vy Văn B và bà Nông Thị H1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Đinh Công T2 - sinh năm 1999; nơi cư trú: phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  • + Anh Tô Thế T3 - sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  • + Anh Hà Văn H2 - sinh năm 1995; nơi cư trú: phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Tuấn H3 - sinh năm 1997; nơi cư trú: phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
  • + Anh Trần Công M1 - sinh năm 2001; nơi cư trú: phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Lý Văn L - sinh năm 2004; nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • + Bà Nông Thị H1 - sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • + Ông Phạm Hữu T4 - sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T là sinh viên trường Đại học C tại thành phố Hà Nội, sáng ngày 13/6/2024, T đã sử dụng ứng dụng Messenger nhắn tin cho bạn bè ngoài xã hội, gồm: Đinh Công T2, Nguyễn Tuấn H3, Trần Công M1, Hà Văn H2 và Tô Thế T3 để thông báo tối ngày 13/6/2024, T từ thành phố Hà Nội về huyện T, tỉnh Quảng Ninh, ai có nhu cầu mua thuốc lá “Chill” (đây là loại lá cây khô dạng sợi có chất ma túy, có thể sử dụng để hút như thuốc lào hoặc thuốc lá) thì chuyển tiền trước cho T. Các đối tượng M1, H3, T2, T3 và H2 đồng ý, M1 chuyển 500.000 đồng, H3 400.000 đồng, T2 300.000 đồng, T3 200.000 đồng và H2 200.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T5 số [...] tên “HOANG VAN THANG” để mua thuốc lá “Chill”. Sau khi nhận tiền, T mua 01 túi nilon thuốc lá “Chill” với số tiền 1.500.000đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi xe khách từ thành phố Hà Nội về huyện T, tỉnh Quảng Ninh và khi ngồi trên xe khách, T chia ra các túi nilon nhỏ để giao cho người đã chuyển tiền cho T, đồng thời nhắn tin cho bạn thân là Nông Đình T1 để nhờ T1 đón rồi đưa đi giao ma túy cho người mua. Đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô biển số 14N1-151.75 đón T tại nút giao Quốc lộ D với cao tốc M - Hải Phòng và chở T về khu vực thị trấn T, huyện T. Trên đường đi, T liên lạc với H3, T2, M1 và H2 để giao ma túy. Tại khu vực phố L, thị trấn T, huyện T, T đưa cho H3 07 túi nilon thuốc lá “Chill” và nhờ H3 chuyển cho T2 01 hộp giấy loại vỏ hộp sạc điện thoại di động bên trong có chứa 08 túi nilon thuốc lá “Chill”; tiếp theo, T gọi điện cho M1 hẹn đến phố L, thị trấn T, huyện T để giao ma túy và M1 đã nhờ Lý Văn L (người làm thuê của gia đình M1) lấy hộ và T đã đưa cho L 09 túi nilon thuốc lá “Chill”; T giao cho H2 02 túi nilon (để ở trước xưởng sản xuất đá lạnh của nhà H2) tại phố T, thị trấn T, huyện T. T, T1 tiếp tục đi về nhà T1 ở thôn P, xã Đ, huyện T, trên đường đi T liên lạc và giao cho T3 03 túi nilon thuốc lá “Chill”, sau đó T, T1 đi về nhà T1.

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 13/6/2024, qua công tác kiểm tra hành chính, Công an huyện T phát hiện Đinh Công T2 cất giấu ma túy và thu giữ ở túi quần bên phải của T2 có 01 hộp giấy (loại vỏ hộp đựng sạc điện thoại) bên trong có chứa 08 túi nilon, bên trong mỗi túi đều chứa lá cây khô dạng sợi. T2 khai nhận đây là thuốc lá “Chill” bên trong có chứa chất ma túy mà trước đó T2 đã mua của Hoàng Văn T.

Ngày 15/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành bắt, tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp đối với Hoàng Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ của Hoàng Văn T: 01 túi nilon trong suốt, kích thước (18x12)cm, bên trong đựng lá cây khô nghi là ma túy; 15 túi nilon trong suốt cùng kích thước (8,5x5)cm; 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu đen, lắp sim thuê bao số 0559.362.397.

Qua lời khai của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã bắt, khám xét khẩn cấp và tạm giữ đối với Nông Đình T1; gọi hỏi các đối tượng mua ma túy của T và các đối tượng đều có lời khai nhận phù hợp, đồng thời giao nộp số ma túy đã mua của T, cụ thể: Thu giữ của Đinh Công T2: 08 túi nilon cùng kích thước (8,5x05)cm đựng các lá cây khô dạng sợi, nghi vấn là ma túy; Thu giữ của Nguyễn Tuấn H3: 06 túi nilon cùng kích thước (8,5x05)cm, trong mỗi túi đựng lá cây khô nghi là ma túy; Đối với số ma túy Hà Văn H2, Tô Thế T3 và Trần Công M1 mua của Hoàng Văn T, các đối tượng khai đã sử dụng hết nên không thu giữ được.

Tại Kết luận giám định số 4523/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của V Bộ C1 kết luận: Các mẫu lá cây khô dạng sợi trong 03 (ba) phong bì niêm phong gửi giám định đều có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA. Khối lượng mẫu, khối lượng chất MDMB-4en-PINACA trong các mẫu cụ thể:

  • + Khối lượng lá cây khô trong mẫu niêm phong ghi “08 túi nilon đựng chất nghi là ma túy thu giữ của Đinh Công T2 ngày 13/6/2024” là 12,95gam; khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,051gam.
  • + Khối lượng lá cây khô trong mẫu niêm phong ghi “01 túi nilon đựng chất nghi ma túy do Hoàng Văn T giao nộp ngày 14/6/2024” là 42,33gam; khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,169gam.
  • + Khối lượng lá cây khô trong mẫu ghi “06 (sáu) túi nilon đựng chất nghi là ma túy do Nguyễn Tuấn H3 giao nộp ngày 14/6/2024” là 9,90gam; khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,039gam.

(MDMB-4en-PINACA là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 241 theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Tại Kết luận giám định số 4657/KL-KTHS ngày 28/6/2024 của V Bộ C1 kết luận: Đều tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Trần Công M1, Hà Văn H2 và Tô Thế T3 gửi giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo T, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Hoàng Văn T còn khai nhận số ma túy còn lại bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ, T dự định sẽ chia ra làm 30 túi nilon để bán với giá 100.000 đồng/ 01 túi. T khai không biết thuốc lá “Chill” là loại ma túy gì, chỉ nghe mọi người nói biết tên gọi như vậy. T1 khai biết T mang ma túy đi bán, biết thuốc lá “Chill” là một loại ma túy nhưng vẫn tự nguyện chở T đi bán mà không hưởng lợi ích hay vật chất gì, do T1 và T là bạn chơi với nhau từ lâu.

Ngoài ra, Cơ quan CSĐT còn thu giữ của Nông Đình T1 01 điện thoại di động Redmi, model 9, vỡ toàn bộ mặt màn hình, gắn sim số 0352.628.901 (đã qua sử dụng); thu giữ của Đinh Công T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đỏ, gắn sim số 0395.821.765 (đã qua sử dụng); thu giữ của Nguyễn Tuấn H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu xám, gắn sim số 0392.036.933 (đã qua sử dụng); thu giữ của Hà Văn H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, gắn sim số 0862.782.683 (đã qua sử dụng); thu giữ của Tô Thế T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu xám, gắn sim số 0936.863.552 (đã qua sử dụng); thu giữ của Trần Công M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu trắng, gắn sim số 0965.894.648 (đã qua sử dụng), là các thiết bị T, T1, T2, H3, H2, T3 và M1 nhắn tin, gọi điện liên lạc với nhau về việc mua bán ma túy.

Tại Bản cáo trạng số: 1192/CT-VKS ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Hoàng Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử phạt Nông Đình T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng, đại diện VKS đề nghị: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số thuốc lá cây khô dạng sợi có chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định, 15 (mười lăm) túi nilon trong suốt, 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước (15x8,5x03)cm, 02 (hai) sim điện thoại; tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1; buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 100.000đ (tiền thu lời bất chính) sung ngân sách Nhà nước; trả lại 05 chiếc điện thoại đã thu giữ cho các đối tượng Đinh Công T2, Nguyễn Tuấn H3, Hà Văn H2, Tô Thế T3, Trần Công M1.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1 thừa nhận nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã nêu đúng hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, các bị cáo khẳng định lời khai nhận trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn đúng sự thật. Lời khai của các bị cáo phù hợp nội dung sự việc; phù hợp với lời khai của các đối tượng mua ma túy là Đinh Công T2, Nguyễn Tuấn H3, Trần Công M1, Hà Văn H2, Tô Thế T3, lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu: Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản khám xét ngày 15/6/2024; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định ma túy, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên toà, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 13/6/2024, Hoàng Văn T đã có hành vi mua lá cây khô dạng sợi có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA với giá 1.500.000 đồng từ thành phố Hà Nội mang về huyện T, tỉnh Quảng Ninh, chia nhỏ ra nhiều túi và bán trái phép cho Đinh Công T2 08 túi với giá 300.000 đồng, Nguyễn Tuấn H3 07 túi với giá 400.000 đồng, Trần Công M1 09 túi với giá 500.000 đồng, Hà Văn H2 02 túi với giá 200.000 đồng và Tô Thế T3 03 túi với giá 200.000 đồng. Bị cáo Nông Đình T1 biết rõ bị cáo T đi bán ma túy nhưng vẫn điều khiển xe mô tô, biển số 14N1-151.75 chở bị cáo T đi bán ma túy thì bị Công an huyện T phát hiện thu giữ vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ của Hoàng Văn T 42,33 gam lá cây khô dạng sợi có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA mục đích để bán.

Hành vi của các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã nêu và viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, làm khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội, đồng thời làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, biết trong các sợi thuốc lá trên đều chứa chất gây nghiện bị cấm, nhưng bất chấp quy định của pháp luật vẫn mua bán trái phép chất ma túy MDMB-4en-PINACA để bán lại kiếm lời. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Do vậy cần thiết xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để đảm bảo công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm tính chất giản đơn. Trong vụ án bị cáo Hoàng Văn T giữ vai trò chính vì đã khởi xướng, mua ma túy về với mục đích bán lại kiếm lời nên phải chịu trách nhiệm chính. Bị cáo Nông Đình T1 biết việc bị cáo T mua ma túy về để bán lại kiếm lời nhưng vẫn tiếp nhận ý chí, đồng ý đón và chở T đi bán (giao) ma túy cho H3, T2, M1, H2, T3 nên T1 giữ vai trò là đồng phạm giúp sức, do đó phải chịu trách nhiệm thứ hai trong vụ án.

[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn T có bố là ông Hoàng Xuân H được tặng thưởng Huy chương quân kỳ quyết thắng do đã có thời gian 25 năm phục vụ liên tục trong lực lượng vũ trang nhân dân, góp phần xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc, T có mẹ là bà Tô Thị M được Bộ trưởng Bộ G tặng Bằng khen; cả 02 bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình, nhằm đảm bảo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo T1 phạm tội lần đầu với vai trò đồng phạm giúp sức, T1 đón và chở T đi giao ma túy cho những đối tượng mua nhưng không được hưởng lợi về tiền hay lợi ích vật chất nào khác, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T1 được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[6] Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

[7] Vật chứng:

Mẫu vật có chứa ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 15 túi nilon trong suốt là dụng cụ để chứa đựng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS Max, màu đen, lắp sim thuê bao số 0559.362.397(đã qua sử dụng) thu giữ của Hoàng Văn T; 01 điện thoại di động Redmi, model 9, vỡ toàn bộ mặt màn hình, gắn sim số 0352.628.901 (đã qua sử dụng) thu giữ của Nông Đình T1, là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại; 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước (15x8,5x03)cm.

Đối với 05 chiếc điện thoại di động thu giữ của Đinh Công T2, Nguyễn Tuấn H3, Hà Văn H2, Tô Thế T3 và Trần Công M1, là vật chứng trong vụ án, tuy nhiên xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, nên trả lại cho các chủ sở hữu.

Đối với số tiền 1.600.000 đồng mà Nguyễn Tuấn H3, Hà Văn H2, Tô Thế T3, Đinh Công T2, Trần Công M1 đã chuyển khoản vào tài khoản của Hoàng Văn T để trả trước tiền mua ma túy, bị cáo T khai đã rút ra và dùng số tiền này để mua ma túy của một người khác hết 1.500.000 đồng, còn lại 100.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Do vậy, cần buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 100.000₫ là tiền thu lời bất chính, để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi mua ma túy về sử dụng của T2, H3, M1, T3 và H2, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, nên không đề cập xử lý.

Đối với Lý Văn L được Trần Công M1 nhờ đi lấy ma túy nhưng không biết đi lấy ma túy, nên không có cơ sở để xử lý.

Về nguồn gốc ma túy, theo lời khai của T mua của người đàn ông ở khu vực quận N, thành phố Hà Nội, không xác định được con người cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Đình T1 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

[2] Vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số 4523/KL-KTHS của V Bộ C1; 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước (15x8,5x03)cm, đã qua sử dụng; 15 (mười lăm) túi nilon trong suốt cùng kích thước (8,5x5)cm; 02 sim điện thoại số 0559.362.xxx và 0352.628.901.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, gắn sim số 0559.362.397, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động redmi, model 9, vỡ toàn bộ mặt màn hình, gắn sim số 0352.628.901, đã qua sử dụng.

Trả lại Đinh Công T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, gắn sim số 0935.821.765, đã qua sử dụng.

Trả lại Nguyễn Tuấn H3 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám, gắn sim số 0392.036.933, đã qua sử dụng.

Trả lại Hà Văn H2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh lá cây, gắn sim số 0862.782.683, đã qua sử dụng.

Trả lại Tô Thế T3 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, gắn sim số 0936.863.552, đã qua sử dụng.

Trả lại Trần Công M1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, gắn sim số 0965.894.648, đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm đồ vật, tài sản được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 05/BB-CCTHADS ngày 14/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên).

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp số tiền thu lời bất chính 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.

[3] Về án phí, quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Hoàng Văn T và Nông Đình T1 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, NLQ;
  • - VKSND huyện Tiên Yên;
  • - Công an huyện Tiên Yên (CQ CSĐT);
  • - CQ THAHS CA huyện Tiên Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Yên;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Tiên Yên;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Nhật Quang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Quang Chỉnh - Nguyễn Thị Hương

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Nhật Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T, Nông Đình Thao - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger