|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày: 25-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thân Văn Hàm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Mai Hòa.
Bà Lương Thị Thắm
Thư ký phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo – Thẩm phán Toà án nhân dân thị xã M.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS, ngày 27/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 11/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc S; Sinh ngày 14/01/197X, tại: thị xã M, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản HL2, xã LN, thị xã M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn S2 (đã chết); con bà: Phạm Thị Th, sinh năm 1948. gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ là Đỗ Thị L, sinh năm 197X và có 01 con sinh năm 199X; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án 01 lần: Ngày 30/02/2002 bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, ngày 20/11/2011 bị cáo chấp hành án xong trở về địa phương, đến ngày phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe máy điện nhãn hiệu VIET THAI màu đỏ, biển kiểm soát 29MĐ3-823.17 đi từ nhà ở bản HL2, xã LN, thị xã M, tỉnh Điện Biên xuống khu vực chợ CK, thị xã M để mua công tắc điện. Khi đi đến khu vực phía sau Trung tâm y tế thị xã M, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 50 tuổi đang dựng xe đứng ở ven đường. Qua trao đổi bị cáo Sơn mua được của người này được 01 gói Heroine gói bằng mảnh giấy màu vàng của vỏ bao thuốc lá với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm gói Heroine trong lòng bàn tay phải rồi tiếp tục điều khiển xe đi theo hướng đường Quốc lộ 12 để về nhà. Hồi 18 giờ 35 phút ngày 17/01/2024 khi bị cáo đi đến khu vực bản B 2, xã LN, thị xã M, tỉnh Điện Biên thì gặp tổ công tác Công an thị xã M đang đi tuần tra, kiểm tra phát hiện bắt quả tang và bắt giữ.
Vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc S gồm:
- - 01 gói giấy màu vàng của vỏ bao thuốc lá, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý – Heroine;
- - 01 xe máy điện nhãn hiệu VIET THAI màu đỏ, biển kiểm soát 29MĐ3-823.17. Số khung: RN4YCDHN4GN411264; số máy: VT4880010160326264.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 17/01/2024 (BL 23) xác định: Gói chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc S có khối lượng 0,12 gam.
Tại bản kết luận giám định số 295/KL-PC09 ngày 23/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Ngọc S khối lượng 0,12 gam là chất ma tuý: Loại Heroine. Hoàn lại 0,09 gam Heroine sau giám định.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSML ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự, Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng vụ án gồm 0,09 gam Heroine còn lại sau trích gửi giám định và tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu VIET THAI màu đỏ, biển kiểm soát 29MĐ3-823.17; Số khung: RN4YCDHN4GN411264; số máy: VT4880010160326264.
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân về tội danh cũng như hình phạt. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa: Vào hồi 18 giờ 35 phút ngày 17/01/2024, tại khu vực đường quốc lộ 12 tại Bản B 2, xã LN, thị xã M tỉnh Điện Biên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ 0,12 gam Heroine tại lòng bàn tay phải của Sơn, mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng cho bản thân.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng của bị cáo nêu trên là nghiêm trọng đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án kết án kết tội 01 lần, cụ thể: Ngày 30/02/2002 bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 15 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, ngày 20/11/2011 bị cáo chấp hành án xong trở về địa phương, đến ngày phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích. Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Đồng thời bị cáo có mẹ đẻ là bà Phạm Thị Thoa được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
[3]. Về hình phạt chính: Ma túy gây tác hại nhiều mặt của đời sống xã hội, đồng thời nó cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Từ những phân tích ở các đoạn [1]. [2] và tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đề nghị hình phạt tù đối với bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo không có điều kiện về kinh tế, thu nhập không ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng vụ án:
Vật chứng 0,12 gam Heroine thu giữ của bị cáo, sau khi trích gửi giám định còn lại 0,09 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu VIET THAI màu đỏ, biển kiểm soát 29MD3-823.17; Số khung: RN4YCDHN4GN411264; số máy VT4880010160326264 mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội trong vụ án này, HĐXX cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự theo khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông theo lời khai của bị cáo là người đã bán Heroine cho bị cáo ngày 17/01/2024, do cơ quan điều tra không xác minh được tên, địa chỉ ở đâu nên không đủ cơ sở để xử lý trong vụ án này. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2024.
-
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong, bên trong đựng 0,09 gam Heroine còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy điện nhãn hiệu VIET THAI màu đỏ, biển kiểm soát 29MĐ3-823.17; Số khung: RN4YCDHN4GN411264; số máy VT4880010160326264.
(Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã M. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã M ngày 02/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thân Văn Hàm |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào hồi 18 giờ 35 phút ngày 17/01/2024, tại khu vực đường quốc lộ 12 tại Bản B 2, xã LN, thị xã M tỉnh Điện Biên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện bắt quả tang bị cáo Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ 0,12 gam Heroine
