|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/KDTM-PT Ngày: 30/9/2024 V/v: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ - ông Hoàng Quý Sửu
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên biệt phái về Tòa án tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lý Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 15/2024/KDTM-PT ngày 08/7/2024, về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án thành phố P có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐ-PT ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Công ty TNHH B
Địa chỉ trụ sở: Số E, Ngách C đường K, phường H, Quận T, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị S, chức vụ Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn P, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội
(Giấy ủy quyền ngày 23/5/2024)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Vũ T, sinh năm 1988, Luật sư thuộc Công ty L. Địa chỉ: Khu tái định cư P, thôn P, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
(Ông Đ và ông T đều có mặt)
2.Bị đơn: Công ty TNHH H
Địa chỉ trụ sở: Khu Công nghiệp Y, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo pháp luật: Ông Moon Hyun D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Kim T1 - vắng mặt
(Giấy ủy quyền ngày 15/6/2024)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Phương T2, sinh năm 1988- Luật sư thuộc Công ty L1, đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Thôn P, xã U, huyện Đ, thành phố Hà Nội - có mặt
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Ngô Thị Phương M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên - vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm: Nguyên đơn Công ty TNHH B (gọi là nguyên đơn) trình bày: Công ty có Mã số doanh nghiệp A. Trụ sở chính: Số E, ngách C đường K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội.
Khoảng từ năm 2015 đến năm 2016 nguyên đơn nhận được các PO của Công ty TNHH H (gọi là bị đơn) về việc cung cấp các trang thiết bị bảo hộ lao động, sau khi nhận được các PO này, nguyên đơn đã thực hiện các đơn hàng với bị đơn 11 đơn hàng gồm:
- PO: 2015071486 ngày 18/07/2015;
- PO: 2015071539 ngày 04/08/2015; |
- PO2015081579 ngày 12/08/2015;
- PO: 2015091641 ngày 03/09/2015;
- PO: 2015091683 ngày 16/09/2015;
- PO: 2015091727 ngày 23/09/2015;
- PO: 2015101754 ngày 04/10/2015;
- RO: 2015101804 ngày 16/10/2015;
- PO: 2015111882 ngày 04/11/2015;
- PO: 2015111983 ngày 01/12/2015;
- PO: 2015122047 ngày 24/12/2015.
Nguyên đơn đã giao đầy đủ hàng hóa theo các đơn đặt hàng này cho bị đơn nhưng bị đơn chưa thanh toán tiền cho nguyên đơn tổng giá trị các PO này là 950.393.300đ (Chín trăm năm mươi triệu, ba trăm chín ba nghìn, ba trăm đồng). Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bị đơn không hợp tác. Do vậy nguyên đơn khởi kiện bị đơn đến Tòa án thành phố P và yêu cầu: Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn nợ gốc là 950.393.300đ (Chín trăm năm mươi triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm đồng) và tiền lãi phát sinh tương ứng với nợ gốc nêu trên từ thời điểm chốt nợ cho đến khi bị đơn hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm căn cứ khởi kiện là: Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ do Công ty TNHH B số 1 gửi khách hàng là công ty H1 thời gian năm 2016, phần cuối của trang thứ 2 ghi đã kiểm tra ngày 19/01/2017 có chữ ký bằng mực sống của chị Ngô Thị Phương M và một số các phiếu xuất kho là bản phô tô có đóng dấu treo của công ty Công ty TNHH B số 1.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bà Nguyễn Kim T1 trình bày: Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn đều khẳng định thực hiện đầy đủ việc giao hàng hóa cho bị đơn theo đơn đặt hàng của bị đơn theo 11 PO nguyên đơn kê ở trên.
Tuy nhiên theo hồ sơ tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, bà cho rằng nguyên đơn bắt đầu thành lập vào ngày 02/12/2015 và công bố hiệu lực mẫu con dấu từ ngày 12/12/2015. Như vậy căn cứ vào Điều 86 Bộ luật dân sự thì nguyên đơn có năng lực pháp luật dân sự kể từ thời điểm ngày 12/12/2015 và khi đó nguyên đơn mới được quyền thực hiện giao dịch dân sự.
Việc nguyên đơn cho rằng đã thực hiện việc giao hàng hóa cho bị đơn trước thời điểm được thành lập là không có căn cứ bởi các đơn hàng mà nguyên đơn nêu ra đều trước thời điểm nguyên đơn được thành lập. Như vậy nguyên đơn không có quyền khởi kiện bị đơn về những đơn đặt hàng nêu trên, đồng thời bị đơn thực hiện những đơn hàng nêu trên như thế nào, với ai cũng không liên quan gì tới quyền lợi của nguyên đơn nên bị đơn không nhất trí trả số tiền trên cho nguyên đơn.
Tài liệu do bị đơn giao nộp là thư xác nhận số dư ngày 31/12/2016; 31/12/2017; 31/12/2018 (Bản dịch và bản tiếng Anh) và các phiếu hạch toán bản phô tô đóng dấu treo của công ty TNHH H
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, thì Công ty TNHH B số 1 bắt đầu thành lập vào ngày 02/12/2015 và công bố hiệu lực mẫu con dấu từ ngày 12/12/2015. Như vậy phía nguyên đơn có năng lực pháp luật dân sự kể từ thời điểm ngày 12/12/2015 và chỉ khi đó nguyên đơn mới được quyền thực hiện giao dịch dân sự.
Việc nguyên đơn cho rằng đã thực hiện việc giao hàng hóa cho bị đơn trước thời điểm được thành lập là không có căn cứ, bởi các đơn hàng mà phía nguyên đơn nêu ra đều trước thời điểm nguyên đơn được thành lập. Như vậy nguyên đơn không có quyền khởi kiện bị đơn về những đơn đặt hàng nêu trên đồng thời việc bị đơn thực hiện những đơn hàng nêu trên như thế nào với ai cũng không liên quan gì tới quyền lợi của nguyên đơn nên bị đơn không nhất trí với yêu cầu khởi và không nhất trí trả số tiền trên cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Ngô Phương M trình bày: Bà bắt đầu vào làm việc tại Công ty TNHH H2 từ ngày 26/04/2016 thông qua việc ký hợp đồng lao động có thời hạn với vị trí việc làm là Nhân viên mua hàng. Tại thời điểm bà vào công ty, nhân sự cũ tại vị trí của bà thay thế đã nghỉ việc nên không có bất kỳ sự bàn giao công việc nào. Bà tiếp nhận xử lý tiếp những công việc mà nhân sự cũ đề lại theo yêu cầu của cấp trên khi đó là Mr. Kim Young S1 - Trưởng phòng Mua hàng.
Liên quan tới vấn đề công nợ lên Công ty TNHH H2 và Công ty TNHH B số 1, tại thời điểm tiếp nhận, bà không tìm thấy hồ sơ thanh toán gốc trong tập hồ sơ nhân sự cũ để lại, sau đó, cấp trên yêu cầu đối chiếu danh mục hàng hóa trong Bảng kê với những Đơn đặt hàng (PO) và Biên bản giao nhận hàng hóa bản photo do phía nguyên đơn cung cấp. Trong biên bản đối chiếu hàng hóa, bà có rà soát từng mục hàng và cũng ghi chú lại những mục hàng không có trong biên bản giao nhận. Cuối biên bản bà có ký nhận mình đã kiểm tra danh mục hàng có trong biên bản. Việc bà ký nhận đã kiểm tra chỉ mang ý nghĩa đã đối chiếu danh mục hàng do nguyên đơn cung cấp chứ không mang ý nghĩa xác nhận công nợ mà nguyên đơn đưa ra với các lý do sau:
- - Một số mục hàng trong bảng kê tôi có ghi chú: Không có phiếu (cụ thể là phiếu giao hàng hay biên bản giao hàng) như vậy tôi không có cơ sở nào để khẳng định nguyên đơn đã giao hàng cho bị đơn và hình thành công nợ
- - Tất cả chứng từ bà nhận được đều là bản photo, không phải bản gốc. Việc bà kiểm tra và xác nhận là theo chỉ đạo của cấp trên. Phòng mua hàng và nhân viên phòng mua hàng được kiểm tra, đối chiếu nhưng không có quyền xác nhận công nợ với nhà cung cấp. Việc xác nhận công nợ là trách nhiệm và nghĩa vụ của Phòng kế toán. Bà đã nghỉ việc tại Công ty H1 kể từ ngày 22/05/2017 nên việc xử lý công nợ với công ty TNHH B số 1 là vấn đề của công ty, bà không có ý kiến gì về vụ việc này.
Tại bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên đã quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B về việc yêu cầu Công ty TNHH H2 phải trả cho Công ty TNHH B số 1 số tiền 950.393.300 VNĐ (chín trăm năm mươi triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm đồng) là tiền mua bán hàng hóa.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Đối với yêu cầu trả lãi, bản án sơ thẩm nhận định: Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã tự nguyện rút yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi đối với số tiền hàng yêu cầu buộc phải trả, do đó Tòa án chấp nhận, không xem xét giải quyết yêu cầu này.
Ngày 12/6/2024, nguyên đơn Công ty TNHH B số 1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm: Các bên giữ nguyên quan điểm như nêu trên.
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, xác định khởi kiện theo 11 đơn hàng (PO), số tiền 950.393.300đ nêu trong đơn khởi kiện là tổng số tiền bên bị đơn còn nợ từ năm 2015 đến 2018, trong đó có tiền của 11 PO là 906.476.000₫.
Bị đơn giữ nguyên nội dung đã trình bày tại cấp sơ thẩm.
Sau khi nghe Hội đồng xét xử giải thích pháp luật, nguyên đơn có đề nghị, nếu bị đơn đồng ý thì nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn không đồng ý nên nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện nữa và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm. Đình chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn không có quyền khởi kiện. Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Công ty TNHH B kháng cáo trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Ngày 28/8/2019 Công ty TNHH B số 1 nộp đơn khởi kiện đòi Công ty TNHH H3 số tiền 950.393.300đ và lãi suất phát sinh, đây là tiền nguyên đơn bán hàng hóa cho bị đơn theo 11PO (đơn đặt hàng) với tổng số tiền 950.336.000₫.
Tài liệu kèm theo đơn là 31 phiếu xuất kho; 01 biên bản đối chiếu công nợ và 08 trang chụp email trao đổi lập PO, đối chiếu công nợ có tên canducvuong. Không có 11PO nói trong đơn kiện. 11 PO nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện được đóng BL từ 272 đến 281 xếp sau khi hoãn phiên tòa sơ thẩm ngày 27.5.2024, không rõ cấp sơ thẩm thu thập từ nguồn nào.
[2] 1. Về đánh giá chứng cứ: Cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đòi số tiền 950.393.300đ (chín trăm năm mươi triệu, ba trăm chín mươi ba nghìn, ba trăm đồng) là tiền mua bán hàng hóa của 46 PO (còn gọi là đơn hàng) là sai lầm nghiêm trọng trong đánh giá chứng cứ quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự bởi lẽ:
- - 46 PO ở đây chính là các mặt hàng trong 11 PO được nêu trong yêu cầu khởi kiện và ngày nguyên đơn xuất kho mặt hàng đó, do vậy không có 46 đơn hàng (PO) mà chỉ có 11 đơn hàng (PO) theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
- Ví dụ: PO 1539 ngày 04/8/2015 (theo án sơ thẩm) chính là mặt hàng bao tay nằm trong mục 1 của PO 2015071539 ngày 04/8/2015 được xuất kho theo phiếu xuất kho ngày 04/8/2015 (BL 52)
- - Về giá trị tiền hàng của 11 PO theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là 906.476.000đ chứ không phải là 950.393.300 đ như bản án sơ thẩm đã tuyên, số tiền chênh lệch 43.917.300đ của hai khoản tiền nêu trên được thể hiện trên Biên bản đối chiếu và xác định công nợ ngày 19/01/2017 (BL 19, 20) như sau:
- + Tại PO 2015081579 ngày 12/08/2015, nguyên đơn xuất hàng ngày 03/9/2015 xuất dư so với đơn hàng 05 túi vải lau với số tiền là 1.368.500đ.
- + Tại PO 2015091683 ngày 16/09/2015, nguyên đơn xuất hàng ngày 30/10/2015 đã xuất dư so với đơn hàng 200 túi tăm bông hai đầu tù với số tiền là 1.760.000₫.
- + Tại PO 2015101754 ngày 04/10/2015, nguyên đơn xuất hàng ngày 20/10/ 2015 xuất dư so với đơn hàng 100 vòng đeo tay với số tiền là 800.000đ.
- + Tại PO 015101804 ngày 16/10/2015 (tổng giá trị là 71.490.000₫), phía nguyên đơn xuất hàng 01 lần vào ngày 20/10/2015 là hết đơn hàng. Trong đó xuất số lượng tăm bông đầu tù và tăm bông đầu vải số lượng không giống với đơn hàng nên giá trị hàng xuất là 95.260.800 tăng 23.770.800 đ.
- + Tại PO 2015111882 ngày 04/11/2015 (tổng giá trị là 4.400.000₫), phía nguyên đơn xuất hàng 01 lần vào ngày 05/11/2015 là hết đơn hàng. Trong đó xuất số lượng tăm bông đầu tù ít hơn so với đơn hàng nên giá trị hàng xuất là 4.268.000 giảm 132.000 đ.
Như vậy tổng số tiền hàng nguyên đơn xuất kho vượt so với 11 PO là 27.699.300₫ - 132.000đ = 27.567.300đ.
- - Phiếu xuất kho ngày 09/7/2015 theo PO 1175 với số hàng thành tiền là 16.350.000đ không nằm trong 11 PO nguyên đơn khởi kiện.
Như vậy cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 43.917.300đ, vi phạm Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] .2. Về đường lối giải quyết vụ án:
Cấp sơ thẩm chấp nhận hiệu lực pháp lý của các PO 2047 ngày 25/12/2015; PO 1983 ngày 04/01/2016; PO 2047 ngày 04/01/2016 (số tiền là 41.500.000₫) với lý do các giao dịch này thực hiện sau ngày Công ty TNHH B số 1 có đủ tư cách của pháp nhân nhưng lại bác yêu cầu đòi số tiền trên do nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh hợp pháp thì ngoài việc sai về đối tượng khởi kiện và số tiền như đã phân tích tại [2] 1. thì về đường lối giải quyết giải quyết đối với khoản tiền này cũng không đúng bởi lẽ: Trong 11 PO nguyên đơn khởi kiện có 01 PO được giao dịch sau ngày Công ty TNHH B số 1 thành lập, đó là PO 2015122047 ngày 24/12/2015 với trị giá của đơn hàng là 22.900.000đ.
Xét thấy bên bán hàng trong PO 2015122047 là Safety Plus co. I (BL271); và P xuất kho bên giao hàng đều là Công ty TNHH B1 (BL 16, BL 17). Nguyên đơn là Công ty TNHH B số 1 không xuất trình được tài liệu thể hiện được Công ty TNHH B1 chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 365 Bộ luật dân sự nên nguyên đơn không có quyền khởi kiện đòi tiền hàng của bị đơn đối với đơn hàng (PO) 2015122047. Do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217, điểm a khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm theo hướng Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện đòi 22.900.000đ tiền mua bán hàng hóa theo đơn hàng (PO) 2015122047 ngày 24/12/2015 của nguyên đơn và nguyên đơn không phải nộp án phí kinh doanh thương mại.
Đối với 10 PO còn lại được ký trước ngày Công ty TNHH B được thành lập (ngày 02/12/2015) do sai về đối tượng khởi kiện và số tiền như đã phân tích tại [2] 1. nên cần sửa lại giá trị tiền hàng của 10 PO nói trên là 883.576.000đ. Bản án sơ thẩm đã xác định đúng là nguyên đơn không có quyền khởi kiện nhưng lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217, điểm a khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuy nhiên để ổn định bản án, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên đường lối giải quyết của cấp sơ thẩm đối với nội dung này, tuy nhiên để bảo đảm quyền lợi cho nguyên đơn nên sửa phần án phí theo hướng nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyển đơn để phù hợp với khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngoài những sai sót trên, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm một số vấn đề sau:
Về thủ tục tố tụng:
- - Cấp sơ thẩm chấp nhận ông Nguyễn Văn Đ tham gia tố tụng với hai tư cách vừa là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- - Bản án sơ thẩm xác định ông PARK HUYN SOON là người đại diện theo pháp luật của bị đơn là nhầm lẫn do cẩu thả bởi ông Moon Hyun D, chức vụ: Tổng giám đốc mới là người đại diện theo pháp luật của bị đơn (BL98).
- - Tài liệu là căn cứ khởi kiện gồm 11PO (đơn đặt hàng) vẫn là bản tiếng Anh, chữ ký phê chuẩn và ngày phê chuẩn bằng tiếng Hàn Quốc chưa được dịch nên cấp sơ thẩm đã vi phạm Điều 20, khoản 3 Điều 96 BLTTDS;
- - Nguyên đơn không nộp 11 PO theo đơn khởi kiện, không có tài liệu thể hiện 11 PO này (BL từ 272 đến 281) được thu thập từ nguồn nào, cấp sơ thẩm vi phạm khoản 2 Điều 96 BLTTDS;
- - Cấp sơ thẩm chưa tổ chức kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ đối với 11 PO nói trên là vi phạm Điều 208, Điều 211 BLTTDS;
- - Cấp sơ thẩm không đưa Công ty TNHH B1 vào tham gia tố tụng để làm rõ về quyền khởi kiện của nguyên đơn là để sót người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
- - Cấp sơ thẩm đã không nghiên cứu kỹ hồ sơ dẫn đến không làm rõ và giải quyết không hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi lẽ:
- - Đối với phần nguyên đơn rút yêu cầu giải quyết về phần lãi theo Thông báo thụ lý vụ án là 285.117.990đ, cấp sơ thẩm nhận định:
Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn xác định khởi kiện theo 11 đơn hàng (PO), số tiền 950.393.300đ nêu trong đơn khởi kiện là tổng số tiền bên bị đơn còn nợ nguyên đơn từ năm 2015 đến 2018, trong đó có tiền của 11 PO là 906.334.000₫.
Lời khai của nguyên đơn phù hợp với nội dung Biên bản hòa giải ngày 06/11/2023 (BL 196). Tại phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm cấp sơ thẩm không làm rõ nội dung này. Do chưa được cấp sơ thẩm giải quyết đối với số tiền nợ nguyên đơn đòi ngoài số tiền hàng của 11 PO nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
“Đối với yêu cầu trả lãi: Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã tự nguyện rút yêu cầu buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi đối với số tiền hàng yêu cầu buộc trả, do đó Tòa án chấp nhận, không xem xét giải quyết yêu cầu này” và không tuyên về phần này trong quyết định. Như vậy là không đúng với thực tế hồ sơ vụ án và không đúng theo quy định tại Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự bởi:
Tại phiên tòa nguyên đơn mới có yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản tiền lãi nói trên (BL 287). Quá trình giải quyết vụ án tại phiên hòa giải nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay toàn bộ 950.000.000đ thì chỉ lấy nợ gốc, nếu không trả được ngay đề nghị giải quyết theo pháp luật (BL 195). Lẽ ra cấp sơ thẩm phải đình chỉ giải quyết đối với nội dung rút yêu cầu tính lãi tại phiên tòa của nguyên đơn trong phần quyết định của bản án sơ thẩm.
Quan điểm về giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH B số 1.
Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH B số 1 được chấp nhận một phần kháng cáo, nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Công ty TNHH B số 1 tạm ứng án phí đã nộp
Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn không phải nộp án phí KDTM sơ thẩm nên hoàn trả tiền tạm ứng án phí KDTM sơ thẩm đã nộp cho nguyên đơn.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH B; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/KDTM-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên.
Áp dụng: điểm g khoản 1 Điều 217, điểm a khoản 1 Điều 192, khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B về việc yêu cầu Công ty TNHH H2 phải trả cho Công ty TNHH B số 1 số tiền hàng của 10 PO là 883.576.000đ (tám trăm tám mươi ba triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).
2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B yêu cầu Công ty TNHH H2 phải trả cho Công ty TNHH B số 1 số tiền 22.900.000₫ (hai mươi hai triệu chín trăm ngàn đồng) tiền mua bán hàng hóa theo đơn hàng (PO) 2015122047 ngày 24/12/2015.
2. Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí KDTM sơ thẩm, hoàn trả nguyên đơn số tiền 24.532.669đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo BL0004571 ngày 20/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
Nguyên đơn không phải chịu án phí KDTM phúc thẩm, hoàn trả nguyên đơn số tiền 2.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo BL0001715 ngày 27/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hồng Mây |
Bản án số 17/2024/KDTM-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 17/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
