|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS- ST
Ngày: 21/9/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Văn Minh.
- Ông Nguyễn Trọng Bộ.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2023/TLST - DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 20B/2024/QÐST-DS ngày 08/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Đình M, sinh năm 1989
- Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1965 và bà Lê Thị P, sinh năm 1970
Địa chỉ: số A, tổ A phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: chị Phạm Thị T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Số B đường T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương.
Chị T có mặt tại, ông H và bà P vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là anh Nguyễn Đình M trình bày:
Ngày 30/9/2022, anh và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Lê Thị P xác lập văn bản thỏa thuận về việc đặt cọc chuyển nhượng nhà đất (không qua công chứng chứng thực). Theo đó vợ chồng ông H, bà P nhận đặt cọc của anh với cam kết chuyển nhượng cho anh nhà đất tại thửa số 200, tờ bản đồ 26, diện tích 518m2 đất ở nông thôn, trên đất có 01 nhà ở cấp 4 riêng lẻ diện tích 61,7m2 và 01 nhà ở cấp 4 riêng lẻ diện tích 41,4m2; địa chỉ: thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương. Các bên thống nhất giá trị chuyển nhượng là 1.200.000.000đ. Tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc ông H, bà P cho anh biết nhà, đất của ông, bà đang được thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khoản vay tại Ngân hàng H2 (H3) – chi nhánh X và đã đến hạn trả nợ. Tuy nhiên ông, bà không bố trí được nguồn tài chính để chi trả ngân hàng. Do đó ông H, bà P đề nghị anh đặt cọc số tiền 1.100.000.000₫ để giải chấp tài sản và ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho anh, số tiền còn lại anh sẽ thanh toán nốt ngay khi các bên xác lập xong hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tại văn phòng công chứng (chậm nhất vào ngày 30/10/2022). Nếu anh đổi ý không mua thì anh sẽ mất hợp đồng đặt cọc, nếu bên bán không thực hiện chuyển nhượng thì phải trả lại tiền cọc và bị phạt cọc số tiền bằng với số tiền anh đã đặt cọc. Trường hợp xảy ra tranh chấp thì bên nhận cọc còn phải chịu toàn bộ chi phí để bên B thuê Luật sư tham gia giải quyết tranh chấp và tiền lãi suất chậm thanh toán toàn bộ nghĩa vụ theo lãi suất 20%/năm và các chi phí liên quan khác. Thực hiện thỏa thuận ngày 30/9/2022 anh đã chuyển đặt cọc cho ông H, bà P số tiền 1.040.000.000đ, việc chuyển tiền được thực hiện thông qua phương thức chuyển khoản vào tài khoản của bà P (số tài khoản 20001010821692 tại ngân hàng M1). Cùng ngày ông H, bà P đã sử dụng số tiền anh chuyển để trả nợ ngân hàng và giải chấp xong tài khoản thế chấp. Tuy nhiên quá thời hạn cam kết, ông H, bà P không thực hiện nghĩa vụ xác lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho anh tại văn phòng công chứng. Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình anh đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu ông H, bà P thực hiện nghĩa vụ nhưng ông H, bà P chỉ khất lần, không thực hiện.
Nay anh khởi khởi kiện Tòa án tuyên hủy giao dịch đặt cọc chuyển quyền sử dụng đất, buộc ông H, bà P phải trả lại anh số tiền 2.312..000.000đ, trong đó: tiền gốc là 1.040.000.000đ, tiền phạt do vi phạm thỏa thuận bằng số tiền anh đã đặt cọc 1.040.000.000đ và tiền lãi chậm thanh toán là 104.000.000đ (tạm tính từ ngày 30/9/2022 đến ngày 30/3/2023) với mức lãi suất theo thỏa thuận tại giao dịch đặt cọc là 20%/năm, đồng thời bảo lưu quyền yêu cầu vợ chồng ông H, bà P thanh toán tiền lãi phát sinh từ khi tòa án xét xử sơ thẩm vụ án.
Tại biên bản ghi lời khai, bà Lê Thị P trình bày: Vào năm 2022, bà quen anh Nguyễn Đình M thông qua 1 người bạn. Lúc này vợ chồng bà nợ ngân hàng M1 số tiền 1.040.000.000đ. Vợ chồng bà muốn mượn tiền anh M để trả nợ ngân hàng và lấy tài sản ra để vay thêm ngân hàng khác (Ngân hàng H4). Sau đó anh M chuyển số tiền 1.040.000.000đ vào tài khoản của bà tại Ngân hàng M1. Sau đó ngân hàng xác định vợ chồng bà nợ xấu nên không giải ngân được tiền vay và cấp cho vợ bà 0 thẻ tín dụng 200 triệu và bà đã chuyển cho bạn anh M là Nguyễn Quốc H1, số tài khoản 19030778655558 tại Ngân hàng K (T2) vào ngày 08/12/2022. Sau khi trả số tiền 200 triệu bà có nói với anh M trả tạm số tiền này, số tiền còn lại khi nào Ngân hàng HD giải ngân thì bà sẽ trả sau. Từ đó đến nay Ngân hàng vẫn chưa giải ngân và do kinh tế gia đình khó khăn, bà vẫn chưa trả tiền anh M. Bà xác định hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2022 giữa vợ chồng bà với anh M là không có thật mà chỉ nhằm đảm bảo số tiền vay 1.040.000.000đ còn cơ bản không có giao dịch mua bán đất, không có việc đặt cọc tiền, không có việc giao nhận tiền. Bà xác định chữ ký trong hợp đồng đặt cọc là chữ ký của 2 vợ chồng bà không có sự ép buộc vì lúc đó bà đã nhận được số tiền anh M chuyển 1.040.000.000₫.
Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tờ bản đồ số 26, thửa số 200 ở thôn Q, xã N, huyện K đang do Ngân hàng HD quản lý theo hợp đồng vay thẻ tín dụng số tiền 200.000.000đ. Sự việc này của vợ chồng bà đã được công an huyện K mời làm việc theo đơn của anh M, kết quả xác minh không có dấu hiệu lừa đảo nên anh M khởi kiện ra Tòa.
- Lời khai của ông Trần Văn H xác định: Năm 2022 vợ chồng ông bà vay vốn tại Ngân hàng M1, số tiền vay là 1.040.000.000đ. Để thanh toán khoản vay trên, vợ chồng ông bà đã hỏi vay số tiền trên của anh M. Sau đó anh M chuyển số tiền trên vào tài khoản của vợ ông tại Ngân hàng M1. Sau khi tất toán khoản vay, vợ chồng ông đã làm hồ sơ vay vốn tại Ngân Hàng H5- chi nhánh H6. Hiện khoản vay ngân hàng H5 chưa thanh toán. Ông xác định có ký vào văn bản thỏa thuận đặt cọc ngày 30/9/2022, việc ký vào văn bản là hoàn toàn nguyện, không bị ai ép buộc, còn số tiền 200 triệu mà bà P chuyển cho anh Nguyễn Quốc H1 thì ông không biết. Đối với yêu cầu của anh M, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do công việc của ông bà bận, đề nghị Tòa án cho ông bà được vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa xét xử vụ án này.
- Lời khai của anh Nguyễn Quốc H1 xác định: Anh có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Đình M. Tuy nhiên anh không biết và không liên quan đến giao dịch đặt cọc mua nhà đất cũng như giao dịch chuyển tiền được xác lập giữa anh M và vợ chồng anh H, chị P. Số tiền 200 triệu chị P chuyển vào tài khoản của anh là giao dịch giữa anh và chị P, không liên quan đến anh M và chị P, do đó anh xác định anh M không liên quan đến số tiền này. Do xác định không liên quan đến vụ án và điều kiện sinh sống ở xa nên anh xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc do Tòa án tổ chức, bao gồm phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa xét xử vụ án này.
- Công văn trả lời ngày 19/8/2024 của Ngân hàng H4 thể hiện: Ngày 13/8/2024 Ngân hàng nhận được công văn số 168/2024/CV- TA ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành về việc xác minh vụ án dân sự. Sau khi rà soát hồ sơ, ngân hàng trả lời như sau: Bà Lê Thị P và ông Trần Văn H có dùng tài sản của mình là thửa đất số 200, tờ bản đồ số 26 ở thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương theo GCN quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 647447 do UBND huyện K cấp ngày 01/12/2020 để thế chấp vay tiền tại H4. Hiện tại khoản vay chưa tất toán và đang rơi vào tình trạng nợ xấu. H4 không cấp cho bà Lê Thị P 01 thẻ tín dụng với số tiền 200 triệu đồng.
- Biên bản ghi lời khai của chị Dương Thị T1 thể hiện: Chị là vợ anh Nguyễn Đình M. Chị xác định số tiền anh M thực hiện giao dịch đặt cọc là của riêng anh M, không liên quan đến chị. Chị xác định không liên quan đến vụ án. Đề nghị Tòa án không đưa chị vào tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Chị từ chối nhận các văn bản của Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày ý kiến giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định tại thời điểm ký văn bản thỏa thuận đặt cọc hai bên xác định số tiền là 1.100.000.0000 đồng nhưng sau khi vợ chồng ông H, bà P điện thoại cho phía ngân hàng H7 xác định dư nợ gốc là 1.040.000.000 đồng nên anh M đã chuyển số tiền 1.040.000.000 đồng theo yêu cầu của ông H, bà P và thay đổi thời hạn tính lãi kể từ ngày 31/10/2022. Như vậy số tiền lãi ông H, bà P phải trả là 1.040.000.000 x 20%/12 x 22 tháng) + (1.040.000.000 x 20%/365 x 20 ngày) = 392.397.000 đồng (đã làm tròn).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 328, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, Luật phí lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình M: Buộc vợ chồng ông Trần Văn H và bà Lê Thị P phải trả cho anh Nguyễn Đình M số tiền đặt cọc là 1.040.000.000 đồng, số tiền phạt cọc là 1.040.000.000 đồng, tiền lãi của số tiền đặt cọc là 392.397.000 đồng. Tổng số tiền ông H, bà P phải trả cho anh M là: 2.472.397.000 đồng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh M yêu cầu thi hành khoản tiền trên mà bà P, ông H chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được thực hiện theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: ông H, bà P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Đình M khởi kiện đối với bị đơn là bà Lê Thị P và ông Trần Văn H có địa chỉ thường trú tại xã N, huyện K nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 30/9/2022, các bên ký kết hợp đồng đặt cọc. Ngày 26/11/2023, anh M nộp đơn yêu cầu khởi kiện tại Tòa án nên việc khởi kiện này nằm trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về nội dung của hợp đồng đặt cọc: Theo nội dung của văn bản thỏa thuận về việc đặt cọc chuyển nhượng nhà đất ngày 30/9/2022 có chữ ký của hai bên nhận đặt cọc là bà Lê thị P, ông Trần Văn H, bên đặt cọc là anh Nguyễn Đình M thể hiện: anh M đặt cọc số tiền 1.100.000.000 đồng cho bà P, ông H để được nhận chuyển nhượng diện tích đất 518m² thửa đất số 200, tờ bản đồ số 26 có địa chỉ tại thôn Q, xã N, huyện K, tỉnh Hải Dương với giá 1.200.000.000 đồng thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn H và bà Lê Thị P, được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/12/2020. Chậm nhất ngày 30/10/2022, hai bên sẽ tiến hành thủ tục ký hợp đồng tại văn phòng công chứng. Trong trường hợp bà P, ông H từ chối và không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trả lại cho anh M số tiền đặt cọc và chịu phạt cọc với số tiền tương ứng. Các bên tham gia giao dịch đặt cọc hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối tượng của hợp đồng đặt cọc là tiền thuộc sở hữu của bên mua là anh M. Thửa đất giao dịch tại thời điểm đặt cọc đang thế chấp tại ngân hàng nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận đặt cọc vì các bên chỉ mới đặt cọc, chứ không phải thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thực tế, ngay sau khi anh M chuyển tiền đặt cọc thì Ngân hàng đã tất toán khoản vay và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên vay nên việc đặt cọc không ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Tài sản các bên chuyển nhượng thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà P, ông H nên bị đơn có quyền thực hiện việc chuyển nhượng cho người khác.
Mặc dù theo văn bản thỏa thuận đặt cọc, anh M phải chuyển số tiền 1,1 tỷ để ông H, bà P giải chấp với Ngân hàng nhưng do ông H, bà P chỉ còn nợ Ngân hàng số tiền 1.040.000.000đ nên anh M chuyển số tiền 1.040.000.000đ cho ông H, bà P vẫn đảm bảo việc thanh toán nợ ngân hàng, giải chấp tài sản thế chấp tại Ngân hàng nên anh M không vi phạm văn bản thỏa thuận đặt cọc.
[2.2]. Về mục đích của việc đặt cọc: theo anh M việc đặt cọc nhằm bảo đảm thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh và vợ chồng chị P, anh H. Tuy nhiên bà P và ông H cho rằng việc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên là không có thật mà chỉ nhằm bảo đảm khoản tiền anh M cho vợ chồng chị vay. Ngoài lời khai trên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà P và ông H không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Anh M không thừa nhận những lời khai của bà P và ông H về mục đích ký kết hợp đồng đặt cọc. Trong hợp đồng đặt cọc cũng nêu rõ bên nhận đặt cọc xác định việc giao kết hợp đồng đặt cọc hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối và không bị ép buộc. Hơn nữa, bà P và ông H đều xác định có ký vào hợp đồng đặt cọc. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bà P, ông H mà khẳng định giữa hai bên đã tự nguyện ký kết hợp đồng đặt cọc số tiền 1.100.000.000 đồng. Hợp đồng đặt cọc nêu trên là hợp pháp thể hiện đúng ý chí của hai bên, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, 328 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.
[2.3]. Về nguyên nhân dẫn đến việc các bên không giao kết, thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Tại hợp đồng đặt cọc, hai bên đã thỏa thuận chậm nhất là ngày 30/10/2022 kể từ ngày ký hợp đồng, sẽ tới tổ chức công chứng để lập và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi hợp đồng đặt cọc có hiệu lực, anh M đã nhiều lần gặp gỡ vợ chồng bà P, ông H để yêu cầu thực hiện việc chuyển nhượng nhưng không có kết quả. Thậm chí, sau khi tất toán khoản vay tại Ngân hàng M1, vợ chồng bà P, ông H còn tiếp tục thế chấp thửa đất trên tại ngân hàng H5 để vay vốn. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hợp đồng đặt cọc có hiệu lực nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Bà P, ông H không thực hiện việc chuyển nhượng, không đưa ra được lý do bất khả kháng nào cản trở việc giao kết và thực hiện hợp đồng nên bà P, ông H hoàn toàn có lỗi trong việc làm cho hợp đồng không được giao kết và thực hiện. Vì vậy, bà P, ông H phải trả lại cho anh M số tiền đã nhận cọc là 1.040.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 328 của BLDS và chịu phạt cọc với số tiền tương ứng theo thỏa thuận.
Ngoài ra, trong nội dung hợp đồng đặt cọc có điều khoản quy định về nghĩa vụ của bên nhận đặt cọc phải chịu tiền lãi suất chậm thanh toán với mức lãi suất 20%/năm trên toàn bộ nghĩa vụ phải thanh toán. Đây là thỏa thuận phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của anh M đã thay đổi yêu cầu thời gian tính lãi bắt đầu từ ngày 30/9/2022 thành từ ngày 31/10/2022 là tự nguyện và có căn cứ vì thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 30/9/2022 các bên chưa có tranh chấp nên chưa làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của nhau. Vì vậy, cần xác định thời gian tính lãi số tiền phải thanh toán kể từ khi bên nhận đặt cọc không thực hiện việc chuyển nhượng là ngày 31/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 22 tháng 20 ngày. Cụ thể: 1.040.000.000 x 20%/12 x 22 tháng) + (1.040.000.000 x 20%/365 x 20 ngày) = 392.397.000 đồng (làm tròn).
[2.4] Về án phí: do yêu cầu khởi kiện của anh M được chấp nhận nên bà P, ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 328, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, Luật phí lệ phí, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình M.
Buộc vợ chồng ông Trần Văn H và bà Lê Thị P phải trả cho anh Nguyễn Đình M số tiền đặt cọc là 1.040.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi triệu đồng), số tiền phạt cọc là 1.040.000.000 đồng (Một tỷ, không trăm bốn mươi triệu đồng), tiền lãi của số tiền đặt cọc là 392.397.000 đồng. Tổng số tiền ông H, bà P phải trả cho anh M là: 2.472.397.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm bảy mươi hai triệu, ba trăm chín mươi bẩy nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh M yêu cầu thi hành khoản tiền trên mà bà P, ông H chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất được thực hiện theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Ông Trần Văn H và bà Lê Thị P phải chịu 81.447.940 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho anh M số tiền 37.510.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001804 ngày 26/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 17/2024/DS- ST ngày 21/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 17/2024/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Nguyễn Đình M khởi kiện ông Trần Văn H và bà Lê Thị Ph về hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
