|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 17/2024/KDTM-ST Ngày: 05/9/2024. V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Thuận
- Bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 17/2024/TLST-KDTM ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-KDTM ngày 09/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-KDTM ngày 19/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1; Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường H, quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế C, chức vụ - Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 – Chi nhánh S2 (Theo quyết định uỷ quyền số 1346/2024/QĐ-QTNNL ngày 08 tháng 4 năm 2024). Ông Nguyễn Thế C uỷ quyền lại cho ông Trần Triệu K, chức vụ - Trưởng phòng kiểm soát rủi ro – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 – chi nhánh S2 (Theo giấy uỷ quyền số 164/2024/GUQ-CNSH ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 – Chi nhánh S2)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T; Trụ sở: K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H, chức danh – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc. Địa chỉ: Số C đường L, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Phúc S, sinh năm 1970; địa chỉ: K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2024 và các văn bản trình bày ý kiến ngày 18/7/2024, ngày 02/8/2024, ngày 19/8/2024 và ngày 05/9/2024 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Triệu K trình bày:
Ngày 14/5/2019, Công ty cổ phần T (sau đây gọi tắt là Công ty Cổ phần T) có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) một Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp (bao gồm Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp và phụ lục bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp). Căn cứ vào thu thập của Công ty Cổ phần T, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa payWave Cre Corp Platinum 461140-9518 với hạn mức sử dụng là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) với mục đích phục vụ nhu cầu cho Công ty Cổ phần T. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, Công ty Cổ phần T đã thực hiện 42 (bốn mươi hai) giao dịch với tổng số tiền là 960.957.170 đồng (Chín trăm sáu mươi triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi đồng). Lãi suất áp dụng là 22%/năm, tương đương 1,83%/tháng (lãi suất trong hạn) và được Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 05/6/2019 đến ngày 05/9/2024, Công ty Cổ phần T đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền là 860.582.441 đồng (tám trăm sáu mươi triệu, năm trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm bốn mươi mốt đồng) (Nguyên tắc thanh toán căn cứ theo khoản 3 Điều 8 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp của Ngân hàng), trong đó từ ngày 05/6/2023 đến 05/9/2024, Công ty Cổ phần T không thanh toán thêm khoản tiền nào khác cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Công ty Cổ phần T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Công ty Cổ phần T vi phạm trách nhiệm thanh toán (khoản 1 và 2 Điều 8 của Hợp đồng phát hành thẻ và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp), ngày 06/8/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (khoản 5 Điều 8 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp).
Tạm tính đến ngày 05/9/2024 Công ty Cổ phần T còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền gốc và lãi là 742.272.126 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); Lãi quá hạn: 197.945.391 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi mốt đồng).
Thẻ tín dụng phát hành cho Công ty Cổ phần T có hai tài khoản; Tài khoản chính gắn với thẻ Công ty là tài khoản thẻ tín dụng V Platinum 461140-9518 và tài khoản CBNV (không có thẻ) là Visa payWave Cre Corp 111111-6957.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu Công ty Cổ phần T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Công ty Cổ phần T vẫn chưa thanh toán khoản nợ Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp ngày 14/5/2019 gồm hai tài khoản là V 461140-9518 và V Corp 111111-6957.
Tại phiên Tòa, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung yêu cầu Công ty Cổ phần T thanh toán nợ gốc và lãi từ tài khoản CBNV (không có thẻ) là Visa payWave Cre Corp 111111-6957.
Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc Công Ty Cổ Phần T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 742.272.126 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); Lãi quá hạn: 197.945.391 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi mốt đồng) căn cứ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 và thẻ V1 số 461140-9518.
Công Ty Cổ Phần T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp.
* Đối với Công ty cổ phần T, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Ngày 02/8/2024, ông Đặng Phúc S, sinh năm 1970 tham gia phiên hòa giải với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tại Tòa án với tư cách là đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T (theo Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 10, ngày 15/3/2018). Tuy nhiên, ngày 15/8/2024, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê nhận được văn bản số 424/CV-ĐKKD ngày 25/7/2024 của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cung cấp Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0400543018, đăng ký thay đổi lần thứ 12, ngày 18/01/2024 có nội dung người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T là bà Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1979. Do đó, nội dung trình bày của ông S trong phiên hòa giải ngày 02/8/2024 không đại diện cho Công ty cổ phần T. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty cổ phần T đều vắng mặt tại các phiên hòa giải, cũng như vắng mặt tại phiên Tòa. Vì vậy, Công ty cổ phần T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên Tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Phúc S vắng mặt. Theo nội dung phiên hòa giải ngày 02/8/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đặng Phúc S trình bày:
Vì mục đích cần thực hiện các giao dịch phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp, Công Ty Cổ Phần T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 - Chi nhánh S2 một Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 được cấp hạn mức tín dụng số tiền 500.000.000 đồng. Trong quá trình Công ty Cổ phần T sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch kinh doanh từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền 857.827.651 đồng, sau đó vì lý do kinh tế khó khăn nên Công ty mất khả năng trả nợ. Đến ngày 06/8/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Hiện nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T phải thanh toán cho Ngân hàng tiền nợ thẻ tín dụng thì Công ty Cổ phần T đồng ý. Tuy nhiên vì tình hình tài chính công ty khó khăn nên yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 xem xét cho Công ty Cổ phần T thêm thời gian để Công ty xoay sở chuẩn bị tài chính trả nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: Nguyên đơn giao nộp:
- Quyết định số 3270/2022/QĐ-PL ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (bản sao);
- Quyết định số 2001/2023/QĐ-QTNNL ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (bản sao);
- Quyết định số 276/2019/QĐ-TTT ngày 28 tháng 01 năm 2019 (bản sao);
- Giấy uỷ quyền số 171/2023/GUQ-CNKH ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1-Chi nhánh S2 (bản sao);
- Quyết định số 6733/2019/QĐ-NS ngày 08 tháng 11 năm 2019 (bản sao);
- Giấy uỷ quyền số 172A/2023/GUQ-CNSH ngày 29 tháng 5 năm 2023 (bản sao);
- Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp công ty cổ phần S1 (bản sao);
- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh S3-Chi nhánh S2 (bản sao);
- Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14 tháng 5 năm 2019 + Phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng (bản sao);
- Thông báo về việc Nợ quá hạn – khởi kiện – thanh lý Thẻ tín dụng trước hạn;
- Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S3 phát hành tại Việt Nam;
- Biểu phí rút tiền mặt qua ATM;
- Biểu phí dịch vụ chấp nhận thẻ S3 + phụ lục tổng hợp điều chỉnh;
- Chứng minh nhân dân Đặng Phúc S, sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần T (bản photo);
- 01 (một) bản trình bày ý kiến ngày 18/7/2024 kèm theo bảng kê tính lãi tạm tính đến ngày 18/7/2024;
- 01 (một) bản trình bày ý kiến ngày 02/8/2024 kèm theo bảng kê tính lãi tạm tính đến ngày 02/8/2024;
- 01 (một) bản trình bày ý kiến ngày 19/8/2024 kèm theo bảng kê tính lãi tạm tính đến ngày 19/8/2024;
- 01 (một) bản trình bày ý kiến ngày 05/9/2024 kèm theo bảng kê tính lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024.
Bị đơn Công ty cổ phần T không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ là 01 Văn bản cung cấp thông tin doanh nghiệp số 424/CV-ĐKKD ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ kèm theo Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp 0400543018, đăng ký lần đầu ngày 08/6/2006, đăng ký thay đổi lần thứ 12, ngày 18/01/2024 của Công ty cổ phần T.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, riêng bị đơn là Công ty cổ phần T đã không trình bày ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 280, Điều 351 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đối với Công ty cổ phần T, buộc Công ty cổ phần T phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi tạm tính tới ngày 05/9/2024 là 742.272.126 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); Lãi quá hạn: 197.945.391 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi mốt đồng) căn cứ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 và thẻ V1 số 461140-9518.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với nội dung Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu Công ty cổ phần T thanh toán nợ gốc và lãi đối với tài khoản CBNV (không có thẻ) là Visa payWave Cre Corp 111111-6957.
Công ty T phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết dư nợ Thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại Phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp ngày 14/05/2019 đã ký. Công ty Cổ phần T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh, hợp đồng ký kết giữa hai bên đều nhằm mục đích lợi nhuận nên được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại về “Hợp đồng tín dụng”. Trong đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T trả nợ vay là tranh chấp kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn là Công ty Cổ phần T có trụ sở tại K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và Công ty Cổ phần T ký kết “Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp và phụ lục bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp” ngày 14 tháng 5 năm 2019 với mục đích Công ty Cổ phần T mở thẻ tín dụng để phục vụ nhu cầu Công ty. Hợp đồng này được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng trên cơ sở qui định tại các Điều 357, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nay, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần T trả nợ vay nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 357, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.
Về thủ tục tố tụng:
Trước khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và Công ty Cổ phần T. Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Trần Triệu K có mặt, Công ty Cổ phần T và người đại diện theo pháp luật, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Phúc S vắng mặt tại phiên toà không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo quy định tại Điều 222, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn Công ty Cổ phần T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Phúc S.
Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết tuyên buộc Công ty Cổ phần T thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp ngày 14/5/2019 gồm hai tài khoản là V 461140-9518 và V Corp 111111-6957.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với nội dung Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần T thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đối với tài khoản CBNV (không có thẻ) là Visa payWave Cre Corp 111111-6957.
Xét thấy, việc người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.
Về nội dung vụ án:
Ngày 14/5/2019, Công ty Cổ phần T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 01 Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp (bao gồm hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp và phụ lục Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp). Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa payWave Cre Corp Platinum 461140-9518 với hạn mức sử dụng là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) để Công ty Cổ phần T phục vụ nhu cầu của công ty. Sau khi cấp thẻ tín dụng, Công ty Cổ phần T đã thực hiện 42 (bốn mươi hai) giao dịch với tổng số tiền là 960.957.170 đồng (chín trăm sáu mươi triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi đồng).
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày 05/6/2019 đến ngày 05/9/2023, Công ty Cổ phần T đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền là 860.582.441 đồng (tám trăm sáu mươi triệu, năm trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm bốn mươi mốt đồng) trong đó kể từ ngày 05/6/2023 đến 05/9/2024, Công ty Cổ phần T không thanh toán thêm khoản tiền nào khác cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Công ty Cổ phần T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Công ty vi phạm trách nhiệm thanh toán (khoản 1 và 2 Điều 8 của Hợp đồng phát hành thẻ và Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp) nên ngày 06/8/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (khoản 5 Điều 8 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp).
Tại phiên Tòa, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xem xét, giải quyết buộc Công ty Cổ phần T phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 742.272.126 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: Dư nợ gốc là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng); Lãi quá hạn: 197.945.391 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi mốt đồng) theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 và thẻ V1 số 461140-9518.
Công ty T phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết dư nợ Thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại Phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp ngày 14/05/2019 đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho Công ty Cổ phần T biết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và các thủ tục tố tụng hợp lệ theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng Công ty cổ phần T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tại Văn bản cung cấp thông tin doanh nghiệp số 424/CV-ĐKKD ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ xác định Công ty Cổ phần T có trụ sở tại địa chỉ: K đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, người đại diện theo pháp luật là bà Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1979, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1) thì thấy:
[5.1] Về tiền nợ gốc: Theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 với Công ty Cổ phần T ngày 14/5/2019 và Tóm tắt sao kê ngày 05/9/2024 đã thể hiện: Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày 05/6/2019 đến ngày 05/8/2023, Công ty Cổ phần T đã thực hiện 42 (bốn mươi hai) giao dịch với tổng số tiền 960.957.170 đồng (chín trăm sáu mươi triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi đồng) là có thật.
Từ ngày 05/7/2019 đến ngày 05/9/2024, Công ty Cổ phần T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền là: 860.582.441 đồng (tám trăm sáu mươi triệu, năm trăm tám mươi hai ngàn bốn trăm bốn mươi mốt đồng) (Nguyên tắc thanh toán căn cứ theo khoản 3 Điều 8 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp của Ngân hàng). Kể từ ngày 05/6/2023 cho đến nay, Công ty Cổ phần T không thanh toán thêm khoản tiền nào khác cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1. Vậy, Công ty Cổ phần T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (khoản 1 và 2 Điều 8 của Hợp đồng phát hành thẻ và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp).
Ngày 06/8/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng) sang nợ quá hạn (theo khoản 5 Điều 8 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp)
Vậy, số tiền nợ gốc mà Công ty Cổ phần T có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 là 544.326.735 đồng theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 đối với thẻ V1 số 461140-9518.
Công ty Cổ phần T vi phạm nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 với Công ty Cổ phần T ngày 14/5/2019. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 về việc buộc Công ty Cổ phần T trả số tiền nợ gốc theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp là 544.326.735 đồng (năm trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm hai mươi sáu ngàn, bảy trăm ba mươi lăm đồng) là có cơ sở chấp nhận, phù hợp nội dung của Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp ngày 14/5/2019 và phụ lục bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp mà các đương sự đã ký kết và các Điều 280, 351 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5.2] Về tiền nợ lãi: Căn cứ Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp và phụ lục bản Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp (có hiệu lực ngày 14/5/2019) và Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S3 phát hành tại Việt Nam – Thẻ tín dụng doanh nghiệp (áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp) thì các bên đương sự có thỏa thuận lãi suất vay trong hạn là 22%/năm, tương ứng 1,83%/tháng, lãi suất quá hạn là 2,745%/tháng (1,83%/ x 150%) (Theo khoản 20 Điều 1 phụ lục bản Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp).
Tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. 2. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định lãi, lãi suất".
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật".
Công ty Cổ phần T đã được Ngân hàng thông báo về lãi suất cho vay, không có ý kiến gì, đã thực hiện trả gốc, trả lãi đối với Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp và phụ lục bản Điều khoản kèm theo. Xét thấy sự thỏa thuận mức lãi suất của các đương sự không phụ thuộc vào Bộ luật Dân sự mà được điều chỉnh theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), các bên đương sự thỏa thuận lãi suất là tự nguyện.
Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; căn cứ vào Tóm tắt sao kê ngày 05/9/2024, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 về việc buộc Công ty Cổ phần T phải trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi thỏa thuận tại Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp và phụ lục bản Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Doanh nghiệp (có hiệu lực ngày 14/5/2019); tiền lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 được chấp nhận là 197.945.391 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm chín mươi mốt đồng).
Công ty Cổ phần T phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 06/9/2024 cho đến khi trả hết dư nợ Thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký.
Án phí Dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn Công ty Cổ phần T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280, Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 465 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 đối với bị đơn, Công ty Cổ phần T.
Buộc Công ty Cổ phần T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/9/2024 là 742.272.126 đồng (Bảy trăm bốn mươi hai triệu, hai trăm bảy mươi hai ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 544.326.735 đồng, lãi quá hạn là 197.945.391 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp ngày 14/5/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế doanh nghiệp đối với thẻ V1 số 461140-9518.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (05/9/2024), Công ty Cổ Phần T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty Cổ phần T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 về việc yêu cầu Công ty cổ phần T thanh toán nợ gốc và lãi đối với tài khoản CBNV (không có thẻ) là Visa payWave Cre Corp 111111-6957.
Án phí Dân sự sơ thẩm số tiền là 33.690.885 đồng (ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn tám trăm tám mươi lăm đồng).
Công ty Cổ phần T phải chịu 33.690.885 đồng (ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi ngàn tám trăm tám mươi lăm đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.285.417 đồng (mười ba triệu hai trăm tám mươi lăm ngàn bốn trăm mười bảy đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001153 ngày 26/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê.
Quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (05/9/2024). Công ty Cổ phần T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Dũng |
Bản án số 17/2024/KDTM-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Sacombank-Công ty Cổ phần Tư vấn và Đầu tư Phúc Sinh
