Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 29/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn – Ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình phúc thẩm thụ lý số: 12/2024/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án Nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998. Vắng mặt
  2. Địa chỉ: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

  3. Bị đơn: Anh Trần Phúc X, sinh năm 1993. Có mặt
  4. Địa chỉ: Thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.

*Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Phúc X

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án Nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thì vụ án có nội dung như sau:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hiền trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Phúc X đăng ký kết hôn vào ngày 03/01/2017 tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì đến đầu năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, anh X có uống rượu bia nên về hay phá đồ đạc và đánh đập vợ. Anh X còn không chăm lo làm ăn, chăm lo gia đình nên vợ chồng hay xẩy ra cãi vã. Chị và anh X đã ly thân từ tháng 05/2023 cho đến nay.

Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Phúc X.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Hữu K, sinh ngày 28/12/2017 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 10/5/2020. Ly hôn chị Hiền X1 nuôi con chung Trần Thị Khánh L và giao con chung Trần Hữu K cho anh X nuôi dưỡng. Chị H và anh X không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị làm công nhân thu nhập mỗi tháng 7 triệu đồng.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết phần chia tài sản chung của vợ chồng.

Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Phúc X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh X thống nhất về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng. Nguyên nhân mẫu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp; không có tiếng nói chung, kinh tế gia đình khó khăn nên hay xẩy ra cãi vã. Tại phiên toà anh X thừa nhận có uống rượu và đánh đập chị H. Anh còn nghi ngờ chị H có quan hệ ngoại tình với người khác. Chị H đã bỏ nhà ra đi từ tháng 5/2023 cho đến nay. Nay chị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì anh còn tình cảm với chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Hữu K, sinh ngày 28/12/2017 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 10/5/2020. Ly hôn anh mong muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Anh X không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi hai con chung. Anh làm nghề kinh doanh buôn bán và lái xe thu nhập mỗi tháng 15 triệu đồng.

Về tài sản: Anh X không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung vợ chồng.

Với nội dung trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án Nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Phúc X.

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Khánh L, sinh ngày 10/5/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao cho anh Trần Phúc X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Trần Hữu K, sinh ngày 28/12/2017 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hiền và anh X vì chưa ai yêu cầu. Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Phúc X được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Phúc X không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 4 năm 2024, bị đơn anh Trần Phúc X kháng cáo một phần Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án Nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An với lý do anh không đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Anh yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết giao 02 con chung cho anh X nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh X giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Chị Nguyễn Thị H mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị gửi Tòa án, trong đó có nội dung: do hiện nay chị H đang làm việc ở nơi xa (tỉnh Bình Dương), chị H đồng ý giao anh Trần Phúc X nuôi dưỡng 02 con chung, vì chị H không muốn hai cháu phải xa nhau và có cuộc sống tốt hơn. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An:

- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thủ tục kháng cáo: Bị đơn anh Trần Phúc X kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Trần Phúc X, sửa nội dung quyết định của bản án sơ thẩm về phần con chung. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên anh X không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của anh Trần Phúc X, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Trần Phúc X làm trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí. Đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Trần Phúc X yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giao 02 con chung cho anh X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng:

Hội đồng xét xử xét thấy:

anh Trần Phúc X và chị Nguyễn Thị H có 02 con chung là Trần Hữu K, sinh ngày 28/12/2017 và Trần Thị Khánh L, sinh ngày 10/5/2020. Cả hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi con chung, đây là nguyện vọng chính đáng, thể hiện tình cảm và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Nhận thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, xét điều kiện hoàn cảnh thì hiện tại anh X, chị H đều có nơi sinh sống và làm việc ổn định, không ai bị hạn chế quyền làm bố, làm mẹ nên cả anh X và chị H đều đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Tuy nhiên, trong thời gian chị H và anh X sống ly thân đến nay, các cháu đều đang ở với bố là anh Trần Phúc X tại thôn C, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Các cháu sống với nhau từ nhỏ, đã quen với điều kiện và môi trường sống, học tập. Cho đến nay không có tài liệu nào chứng minh việc anh X nuôi dưỡng 02 con chung không đảm bảo điều kiện cuộc sống vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, chị H có đơn trình bày với nguyện vọng đồng ý giao hai con chung cho anh Trần Phúc X chăm sóc, nuôi dưỡng vì chị H không muốn hai cháu phải xa nhau và có cuộc sống tốt hơn. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của 02 con chung cũng như không làm ảnh hưởng cuộc sống vốn có của các con nên giao 02 con chung cho anh X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục là hợp lý. Trong trường hợp chị H có căn cứ theo quy định của pháp luật chứng minh anh X không đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, chị H có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của anh Trần Phúc X xin được nuôi dưỡng 02 con chung, sửa Bản án sơ thẩm về phần con chung.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên anh Trần Phúc X không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn anh Trần Phúc X; sửa nội dung quyết định của bản án sơ thẩm về con chung.

Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Về con chung: Giao cho anh Trần Phúc X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thị Khánh L, sinh ngày 10/5/2020 và Trần Hữu K, sinh ngày 28/12/2017 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H vì anh X chưa yêu cầu. Chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
  2. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về án phí phúc thẩm: anh Trần Phúc X không phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho anh Trần Phúc X số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh X đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008482 ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - TAND, VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp nuôi con khi ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nuôi con khi ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp nuôi con khi ly hôn Nguyễn Thị H- Trần Phúc X
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger