Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST

Ngày 15-8-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và
công nhận giao dịch chuyển nhượng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Sang và ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2023/TLST-DS ngày 10/4/2023 của TAND huyện Tứ Kỳ về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và thụ lý bổ sung số 12A/2023/TB-TLTA ngày 14/8/2023 và thụ lý số 12B/2024/TB-TLTA ngày 03/6/2024 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QÐST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/TB-TA ngày 16/7/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1988 và chị Trần Thị A, sinh năm 1990; Đều trú tại: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Chị A ủy quyền cho anh T tham gia tố tụng);
  • + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T, chị A: Ông Vũ Quang B- Luật sư thuộc Công ty L4- Đoàn Luật sư T9; Địa chỉ: số E Q, phường T, quận H, TP Hà Nội; Văn phòng giao dịch: số F ngõ B Đ, quận C, TP Hà Nội.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T1, sinh năm 1962.
  • Trú quán: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Trú quán: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (Bà L ủy quyền cho ông T1 tham gia tố tụng);
  • + Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1975; địa chỉ: số B phố T, phường T, quận L, TP Hải Phòng;
  • + Bà Vũ Thị T2, sinh năm 1975 và ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1971; Đều trú quán: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương (ông T3 ủy quyền cho bà T2 tham gia tố tụng);
  • + UBND huyện T, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H- Chủ tịch UBND huyện T; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn K- Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T;
  • + Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962;
  • + Cụ Vũ Thị H2, sinh năm 1941;
  • + Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974;
  • + Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977;
  • Đều trú tại: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
  • + Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1962; trú tại: thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương;
  • + Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1971, trú tại: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  • + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1980; trú tại: thôn L, xã V, huyện T tỉnh Hải Dương;
  • - Người làm chứng:
  • + Ông Hà Hải N1, sinh năm 1975;
  • + Ông Vũ Hồng K1, sinh năm 1956;
  • + Ông Vũ Mạnh T4, sinh năm 1960;
  • Đều trú tại: thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
  • + Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1954; ĐKHTT: tổ A, phường V, quận H, TP Hà Nội; Trú tại: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;

Anh T6, ông B, ông T1, ông T4 có mặt.

Bà Q vắng mặt không có lý do; bà T2, ông K, ông H1, bà N, cụ H2, ông C, bà L1, bà H3, bà H4, bà P vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; người làm chứng ông N1, ông K1, ông T5 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác có tại hồ sơ nguyên đơn anh Vũ Văn T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Thị A trình bày:

Anh chị có thửa đất số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 665m² tại thôn T, xã C, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/02/2017 đứng tên vợ chồng. Thửa đất trên do anh chị nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị Q, hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng, có chứng thực của UBND xã C ngày 17/01/2017, theo đó bà Q chuyển nhượng cho anh chị diện tích 665m², trong đó có 200m² đất ở, 89m² đất trồng cây lâu năm và 376m² đất nuôi trồng thủy sản, kích thước các cạnh theo giấy chứng nhận mà UBND huyện T đã cấp cho bà Phạm Thị Q ngày 23/11/2011, giá chuyển nhượng là 20.000.000 đồng, thời điểm mua,

hiện trạng thửa đất là một phần đất trống và một phần ao. Qua tìm hiểu anh chị được biết nguồn gốc thửa đất trên trước khi chuyển nhượng là do bà Q mua của vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1 và vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2 ở cùng thôn, anh chị cũng không biết diện tích ông H1, cụ L2 bán cho bà Q như thế nào, mỗi người bán bao nhiêu m². Tuy nhiên việc mua bán này đều có hợp đồng chuyển nhượng và được làm thủ tục đầy đủ.

Ông Nguyễn Trung T1 có thửa đất ở phía trong, thời điểm anh chị nhận chuyển nhượng, hướng Tây đã có ngõ đi vào nhà ông T1, trước đây ngõ đi là đường đất, khoảng năm 2015-2016 ông T1 mới làm rộng và trạt bê tông, một bên thì ngõ đi giáp đất nhà ông T3, bà T2, nhưng ông T1 cũng không làm hết đất mà còn để lại một phần diện tích đất của anh chị nằm bên vườn bà T2, ông T3, bên còn lại thì chỉ là mép đường trạt bê tông. Bản chất ngõ đi vào nhà ông T1 và một phần bên vườn của ông T3, bà T2 là đất của bà Q đã bán cho anh chị. Trước khi mua bán, anh chị và bà Q có ra xem hiện trạng thửa đất, nhưng bà Q không nói gì về ngõ đi vào đất ông T1. Khi hai bên chuyển nhượng cũng chỉ dựa trên giấy tờ vì bà Q đã có giấy chứng nhận nên cơ quan cấp giấy chỉ ghi nhận sự biến động theo quy định, còn cơ quan chuyên môn có về đo đạc, thẩm định không thì anh chị không biết. Do đó anh chị không biết ngõ đi vào đất ông T1 là diện tích đất mà anh chị đã mua của bà Q. Khi hòa giải tại UBND xã C, ông T1 trình bày diện tích ngõ đi do ông T1 mua một phần đất của vợ chồng ông H1 và một phần đất của cụ L2. Tuy nhiên ông T1 chỉ đưa ra được bản pho to giấy mua bán và bản trích đo ngày 27/01/2011, nhưng bản trích đo này đã bị hủy để làm bản trích đo khác phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phạm Thị Quy .

Tháng 11 năm 2017, anh chị xây nhà cấp 4, do giáp ranh ngõ đi vào đất ông T1 và đất anh chị mua không có gì ngăn cách, bảo vệ. Vì vậy, để bảo đảm an ninh và tài sản gia đình, anh chị đã xây tường bao bằng gạch ba banh, cao khoảng 1,2m chạy dọc từ đầu đường xóm về phía cuối đất. Qua buổi xem xét thẩm định tại chỗ, biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất đã xác định hiện trạng diện tích vợ chồng anh đang sử dụng là 829,3m² (chưa bao gồm diện tích đất đang tranh chấp), anh chị xác định ông T1, bà L lấn chiếm tổng diện tích 43,7m², đất nằm bên vườn ông T3, bà T2 8,7m² (như sơ đồ), tổng diện tích 52,4m². Căn cứ anh chị cho rằng ông T1, bà L, ông T3, bà T2 lấn chiếm đất của anh chị đó là: Thửa đất của anh chị đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận, có cạnh chiều mặt đường dài 29,7m, nhưng hiện trạng giờ chỉ còn 26,32m. Nay, anh chị khởi kiện buộc ông T1, bà L phải trả 43,7m², ông T3, bà T2 phải trả 8,7m², tổng cộng 52,4m². Trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, anh chị nhất trí hỗ trợ vợ chồng ông T1 giá trị công sức san lấp, tôn tạo, làm ngõ đi trạt bê tông và trả giá trị các cây trên đất cho vợ chồng ông T3, bà T2 theo biên bản định giá của Hội đồng định giá. Trường hợp yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận thì buộc bà Phạm Thị Q phải trả lại tiền do bán thiếu đất cho anh chị với diện tích 52,7m² tương ứng số tiền 59.000.000 đồng. Trường hợp Tòa án có căn cứ xác định bà Q không bán thiếu đất cho anh chị, thì nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét việc bà Q đã nộp thuế đất đối

với diện tích 808m² để công nhận cho anh chị được quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng (bao gồm cả phần đất tranh chấp). Đối với số tiền đã chi phí cho việc thẩm định, định giá, nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai, đơn yêu cầu và các tài liệu khác có trong hồ sơ, bị đơn ông Nguyễn Trung T1 (vừa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L) thống nhất trình bày:

Ông bà có thửa đất do ông cha để lại giáp ranh với đất cụ L2, cụ H2, vợ chồng ông H1, bà N, và ao ông T4 (bố anh T). Trước đây, ngõ đi vào thửa đất của ông vòng ra phía sau, giáp nghĩa trang cũ từ thời các cụ. Do có mộ ngay đầu ngõ, thậm chí đi trên mộ mà không hay biết, gia đình ông xảy ra nhiều biến cố, con trai duy nhất mắc bệnh chết sớm khi vừa 18 tuổi, vợ ốm đau liên miên. Vợ chồng ông H1, vợ chồng ông L2 có thửa đất bên cạnh giáp đường xóm nên ông hỏi mua đất ít đất làm ngõ đi, được các ông bà thương cảm với hoàn cảnh và đồng ý ngay. Theo đó ngày 16/02/2010 các bên làm hai giấy mua bán với nội dung vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Vũ Thị H2 chuyển nhượng cho ông bà diện tích 28,70m² với giá 2.870.000 đồng và vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N chuyển nhượng cho ông bà diện tích 24m² với giá 2.400.000 đồng, có ông Vũ Hồng K1 và anh Hà Hải N1 ở cùng xóm làm chứng và ký vào giấy mua bán. Vợ chồng ông đã trả tiền đầy đủ, nhận đất, tuy nhiên các bên chỉ viết giấy mua bán với nhau chứ không ra cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Thời điểm đó hiện trạng phần đất mà ông bà mua của vợ chồng cụ L2 là đầu ao và vợ chồng ông H1 là vườn trồng chuối, vợ chồng ông dọn dẹp, san gạt ra, xây bờ gô bằng gạch ba banh hai bên ngõ, đổ bê tông ngõ đi dày 5cm và xây cổng để đi lại từ đó đến nay, có sự xác định mốc giới đất của vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 và chứng kiến của hàng xóm. Do phần đầu ngõ đi ra đường xóm hẹp, kẹp giữa đất còn lại của ông H1, bà N và vợ chồng ông T3, bà T2 nên các ông bà có bảo và nhất trí cho ông trạt bè ra hình cánh quạt cho dễ cua ra cua vào đề phòng tai nạn, phần giáp đất ông H1 cho thêm hình cánh cung, phần ông T3, bà T2 thì cho mượn, ông xây bờ be bằng gạch hai bên của ngõ đi từ cổng ra đến đường xóm là hết đất theo xác định mốc giới đất của ông H1, cụ L2, không để lại đất phía giáp ông T3, bà T2 như ý kiến của anh T. Đầu năm 2011, vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 cùng bán phần đất còn lại cho bà Phạm Thị Quy . Khi bà Q mua, các bên có mời ông Nguyễn Văn T5 cán bộ địa chính xã C xuống đo đạc, có ra nhận mốc giới, ký biên bản giáp ranh liền kề, có lập hồ sơ chuyển nhượng ngày 27/01/2011 (tức hai người bán đất cho bà Q trong cùng một hợp đồng). Còn sau đó, các bên có làm thêm hợp đồng nào, UBND huyện sử dụng hợp đồng nào và bà Q được cấp giấy chứng nhận như thế nào, diện tích bao nhiêu m², kích thước như thế nào thì ông bà không biết. Năm 2017, bà Q không có nhu cầu sử dụng nên chuyển nhượng lại toàn bộ thửa đất cho vợ chồng anh T, chị A. Thời điểm đó cán bộ địa chính và cơ quan chuyên môn không về đo đạc hiện trạng mà cứ thế làm thủ tục cấp giấy cho vợ chồng anh T, chị A. Sau khi anh T, chị A nhận chuyển nhượng, đã xây nhà cấp 4, xây tường

bao giáp ngõ đi bằng gạch ba banh cao 1,2m. Từ thời điểm ông bà mua đất làm ngõ đi và mở lối đi đến nay thì vợ chồng cụ L2, vợ chồng ông H1, bà Q, vợ chồng anh T, chị A không có ý kiến, tranh chấp gì. Nay, anh T, chị A khởi kiện, buộc vợ chồng ông phải trả lại diện tích đất lấn chiếm làm ngõ đi cho anh chị ấy, ông bà không đồng ý, vì: Thứ nhất, phần diện tích đất 28,7m² (sau khi anh T xác định, đo đạc lồng ghép 17,7m²) + 14,3m² nằm ngoài phần tranh chấp mà vợ chồng cụ L2 và phần diện tích đất 24m² (sau khi anh T xác định, đo đạc lồng ghép 26,7m²) mà vợ chồng ông H1 đã bán cho vợ chồng ông, có giấy tờ mua bán, ông bà nhận chuyển nhượng và sử dụng đất trước khi vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 chuyển nhượng phần đất còn lại cho bà Q. Thứ hai: Mặc dù chưa ra cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định, tuy nhiên ngõ đi ông bà đã sử dụng ổn định từ tháng 02/2010 đến nay, khi bà Q mua phần đất còn lại của vợ chồng ông H1, cụ L2 và anh T, chị A mua lại của bà Q ngõ đi ông mua đã có rồi, bà Q, anh T, chị A đều biết nhưng không có ý kiến, tranh chấp gì. Thứ ba: hiện nay ông bà không còn lối đi nào khác, lối đi cũ trước đây toàn mộ, ông bà cũng đã xây tường rào, phần phía ngoài cũng đã bị người khác chiếm dụng, trồng cây. Vì vậy, ông đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông và vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Vũ Thị H2, vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N ngày 16/02/2010 có giá trị pháp lý và công nhận diện tích đất 17,7m² + 14,3m² và 26,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N trình bày:

Vợ chồng ông và vợ chồng ông T1 là hàng xóm, ông bà có thửa đất 29, 30, 31 tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 327m² thôn T, xã C được đăng ký trong hồ sơ 299. Đến ngày 17/10/1995 được cấp giấy chứng nhận cùng với một thửa đất khác bên kia đường xóm. Theo đó cạnh đất phía tây giáp đất của cụ T7 (sau này cho ông T3, bà T2). Về nội dung ngõ đi cũ, vợ chồng ông T1 đặt vấn đề mua đất của vợ chồng ông bà, vợ chồng cụ L2 đúng như ông T1 đã khai. Theo đó, ông bà chuyển nhượng cho ông T1, bà L 24m² đất, giá 2.400.000 đồng, hai bên có viết giấy biên nhận ngày 16/02/2010, có người làm chứng là ông Vũ Hồng K1, ông Hà Hải N1 cùng xóm, ông T1, bà L đã trả đủ tiền, nhận đất. Cùng ngày vợ chồng ông T1 cũng mua phần đất của vợ chồng cụ L2 và trả tiền xong. Sau khi mua bán, vợ chồng ông và vợ chồng cụ L2 và ông T1 đều ra thực địa chỉ mốc giới cho ông T1 làm ngõ đi, vợ chồng ông T1 nhận đất, xây bờ be bằng gạch ba banh hai bên, đổ trạt và sử dụng. Ở điểm đầu ngõ ra đường xóm hẹp nên ông bà có cho thêm ông T1 một ít đất hình rẻ quạt về phía đất của ông bà còn ông T3, bà T2 cũng để cho ông ấy mượn một ít đất trạt ra hình rẻ quạt để cua ra cua vào cho thuận tiện, tránh bị tai nạn. Ông bà xác định phần đất của ông bà bán cho ông T1 chỉ hết hàng gạch ông T1 xây giáp với vườn của ông T3, bà T2, phần vườn mà anh T chỉ khi thẩm định nằm ở trên vườn bà T2, ông T3 không phải là đất của ông bà còn đến đó, không có chuyện đất của ông bà vẫn còn mà ông T1 chỉ làm ngõ đi như vậy mà các bên để yên. Năm 2011, phần diện tích đất còn lại ông bà không sử dụng nên bán cho bà Q, vợ chồng

cụ L2, cụ H2 cũng bán cho bà Q một phần đất. Ba bên có làm chung một hợp đồng đề ngày 27/01/2011, theo đó vợ chồng ông, vợ chồng cụ L2 bán cho bà Q phần diện tích được ghi trong hợp đồng, các bên cùng với địa chính xã (ông T5) thời điểm đó ra đo đạc, ký giáp ranh, đồng thời cung cấp hai giấy chứng nhận bản gốc cấp năm 1995 thành bộ hồ sơ chuyển nhượng, sau đó thì ai mang lên UBND huyện để làm thủ tục thì ông bà không biết, sau này ông bà được thông báo mất giấy thì phải làm lại thì mới chuyển nhượng được. Như vậy, ban đầu chỉ làm một hợp đồng, về sau thì tách riêng làm hai hợp đồng, của nhà nào thì nhà ấy bán cho bà Q, còn thủ tục như thế nào, diện tích ghi trong hợp đồng bán cho bà Q ông bà cũng không để ý nữa. Thời điểm trên, bà Q biết rõ ngõ đi vào nhà ông T1 đã có rồi, bà Q vẫn đồng ý mua, đến khi anh T, chị A nhận chuyển nhượng của bà Q cũng vậy. Ông bà khẳng định diện tích đất bán cho bà Q năm 2011, không bao gồm cả ngõ đi vì đã bán cho vợ chồng ông T1 nên không nhất trí quan điểm khởi kiện của anh T, chị A. Thời điểm bán đất cho vợ chồng ông T1, ông bà đã tìm hiểu thủ tục nhưng cán bộ địa chính xã giải thích diện tích nhỏ không đảm bảo tách thửa để cấp giấy mà sẽ chuyển làm ngõ đi cho ông T1. Trường hợp ông T1 đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông với vợ chồng ông T1 ngày 16/02/2010 là có giá trị pháp lý, ông bà hoàn toàn nhất trí để ông bà ấy được quyền sử dụng diện tích đã mua 24m² và phần diện tích được ông bà cho thêm (sau khi thẩm định 26,7m²) làm ngõ đi.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ Vũ Thị H2, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị P đều thống nhất trình bày:

Cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Vũ Thị H2 có thửa đất số 25 và thửa số 24 tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 1081m² đất thôn T, xã C được đăng ký trong hồ sơ 299. Đến ngày 17/10/1995 được cấp giấy chứng nhận đứng tên hai cụ. Theo đó cạnh đất phía Nam giáp đất ông H1, cạnh phía Tây giáp một phần đất ông T3, bà T2 và ao của ông T4 (bố đẻ anh T) và giáp đất ông T1. Về ngõ đi cũ trước đây của ông T1 và quá trình ông T1 đặt vấn đề mua đất của cụ L2, cụ H2 cũng giống như ông H1, bà N đã trình bày. Theo đó, cụ L2 và cụ H2 chuyển nhượng cho ông T1, bà L 28,7m² đất, giá 2.870.000 đồng, hai bên có viết giấy biên nhận ngày 16/02/2010, có người làm chứng là ông Vũ Hồng K1, ông Hà Hải N1 cùng xóm, ông T1, bà L đã trả đủ tiền, nhận đất. Cùng ngày vợ chồng ông T1 cũng mua phần đất của vợ chồng ông H1 và trả tiền xong. Sau khi mua bán, vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 và ông T1 đều ra thực địa chỉ mốc giới cho ông T1 làm ngõ đi, vợ chồng ông T1 đã nhận đất, xây bờ be bằng gạch ba banh hai bên đổ trạt và sử dụng. Năm 2011, vợ chồng cụ H2 bán một phần đất, vợ chồng ông H1 bán diện tích đất còn lại cho bà Q. Ba bên làm chung một hợp đồng đề ngày 27/01/2011, theo đó, vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho bà Q diện tích 437m², còn lại chồng ông H1 chuyển nhượng 371m², ba bên cùng với địa chính xã (ông T5) thời điểm đó ra đo đạc, ký giáp ranh, sau đó cùng với giấy chứng nhận bản gốc cấp năm 1995 thành bộ hồ sơ chuyển nhượng, sau đó thì ai mang lên UBND huyện để làm thủ tục thì không biết, sau này hai cụ được

thông báo mất giấy thì phải làm lại thì mới chuyển nhượng được. Như vậy, ban đầu chỉ làm một hợp đồng, về sau thì tách riêng làm hai hợp đồng, của nhà nào thì nhà ấy bán cho bà Q, còn thủ tục như thế nào, diện tích ghi trong hợp đồng bán cho bà Q, cụ H2 và các con cũng không để ý nữa. Thời điểm trên, bà Q biết rõ ngõ đi vào nhà ông T1 đã có rồi, bà Q vẫn đồng ý mua, đến khi anh T, chị A nhận chuyển nhượng của bà Q cũng vậy. Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới, cụ H2 đã ra thực địa xác định ranh giới, mốc giới từ điểm tường A2 trên sơ đồ về phía cuối đất, cua theo đường bê tông một đoạn là 1,87m, từ điểm này kéo đến điểm mép cầu ao thứ 2 bằng bê tông 5,56m đến điểm A16, từ điểm A16 kéo về điểm A15 là ranh giới đất đã bán cho bà Q và đất còn lại của hai cụ. Cụ Nguyễn Văn L2 chết ngày 20/9/2016, không để lại di chúc. Trường hợp ông T1 đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa vợ chồng cụ L2 với vợ chồng ông T1 ngày 16/02/2010 là có giá trị pháp lý, cụ H2 và ông C, bà H3, bà H4, bà L1, bà P hoàn toàn nhất trí để vợ chồng ông T1 được quyền sử dụng diện tích đã mua (gồm phần đất anh T đang tranh chấp 17,7m²)+ phần ngoài diện tích tranh chấp 14,3m² để làm lối đi.

- Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T2 (vừa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3) trình bày:

Ông bà có thửa đất số 28, tờ bản đồ số 3, diện tích 237m², đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất đứng tên vợ chồng. Nguồn gốc thửa đất trên là của cụ Nguyễn Văn T7 (bố ông T3), sau đó được bố mẹ chồng cho. Giáp ranh về phía Đông giáp đất của vợ chồng ông H1 và một phần đất cụ H2, ranh giới đất giữa hai bên là bờ đất, hàng râm bụt, phía giáp hàng râm bụt các cụ đã trồng hàng cau ta hiện vẫn còn. Về ngõ đi cũ của ông T1 thì đúng như ông ấy đã trình bày. Sau đó ông T1 hỏi mua đất của vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 làm ngõ đi, diện tích bao nhiêu, thủ tục mua bán như thế nào bà không nắm được. Sau đó ông T1 đã xây bờ be bằng gạch ba banh hai bên đổ cát, trạt ngõ đi, lúc đó vợ chồng bà, ông H1, cụ L2 đều ra xác định mốc giới đúng ranh giới giữa ba nhà ngoài thực địa. Thời điểm vợ chồng ông H1, cụ L2 bán đất cho bà Q thì đã bán ngõ đi cho ông T1 trước đó khoảng 01 năm. Vừa qua, khi Tòa án về thẩm định, đo đạc, vợ chồng bà không có nhà, tuy nhiên bà được Tòa án làm việc và thông báo lại, anh T ra xác định mốc giới đất mà anh chị ấy cho rằng trước đó là đất của bà Q vượt qua bờ be gạch về phía tây là 1,07m từ điểm A7 đến điểm A8 trở về đến A9 trên sơ đồ tạo hình tạm giác có diện tích 8,7m² và cho rằng đây là đất của anh chị ấy đã mua của bà Q, vợ chồng bà không đồng ý, vì vợ chồng bà và vợ chồng ông H1, cụ L2 đã ra xác định đúng mốc giới để cho vợ chồng ông T1 xây tường be làm ngõ đi, phía trên vẫn là hàng cau của vợ chồng bà do các cụ trồng để lại, hơn nữa kích thước thửa đất từ mép tường nhà bà K2 (em gái ông T3) trở ra là 12m, cũng phù hợp với giấy chứng nhận mà nhà nước đã cấp cho ông bà. Đối với ranh giới đầu ngõ ông T1 đã xây bờ be, tuy nhiên vợ chồng bà nhất trí để cho ông T1 mượn trạt cua thêm ra hình rẻ quạt để cua ra cua vào cho thuận lợi, tránh bị tai nạn.

Tòa án đã gửi thông báo thu lý, nhiều lần triệu tập bà Phạm Thị Q theo địa chỉ mà anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A khởi kiện, tuy nhiên bà Q không đến làm việc. Tòa án đã ủy thác cho TAND quận Lê Chân, TP Hải Phòng tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng và trực tiếp về xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng bà Q không có mặt ở địa chỉ trên, không gửi văn bản, không đến Tòa án làm việc, bà Q đi đâu, làm gì địa phương không nắm được.

Ngày 23/01/2024, Cục Q1- Bộ C2 xác nhận: bà Phạm Thị Q có năm sinh, địa chỉ nêu trong Công văn của Tòa án không có thông tin xuất cảnh.

- Người làm chứng ông Hà Hải N1 và ông Vũ Hồng K1 đều thống nhất trình bày: Ông Vũ Hồng K1 là thông gia, ông Vũ Hải N2 là hàng xóm với ông T1. Ngày 16/02/2010, các ông có chứng kiến việc vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 đều bán một phần đất do vợ chồng ông Nguyễn Trung T1 làm ngõ đi, ông T1 đã trả đủ tiền mua đất và nhận đất để làm ngõ đi, các ông có ký vào 02 giấy mua bán.

- Người làm chứng ông Nguyễn Văn T5 trình bày: trước đây ông làm cán bộ địa chính xã C từ năm 1990 đến năm 2014 về nghỉ chế độ. Về nguồn gốc các thửa đất của vợ chồng cụ L2, vợ chồng ông H1 ở thôn T đúng như các ông ấy đã trình bày. Năm 2010-2011 ông nghe nói vợ chồng ông H1, cụ L2 có bán một phần đất cho vợ chồng ông T1 làm ngõ đi, năm 2011, vợ chồng ông H1 bán diện tích còn lại, vợ chồng ông L2 bán một phần diện tích đất cho bà Q và đề nghị ông thiết lập hồ sơ chuyển nhượng, ông đã xuống thực địa xem xét, đo đạc, thiết lập hồ sơ gồm có hợp đồng, biên bản kiểm tra hiện trạng, trích đo và một số giấy tờ khác, lúc đó ngõ đi vào nhà ông T1 đã có rồi. Ông chỉ làm gộp một hợp đồng từ hai người bán cho một người, đã trừ lối đi vào nhà ông T1 vì đã bán, thể hiện cạnh phía tây tiếp giáp ngõ đi ông T1 không còn như trên giấy chứng nhận, có chữ ký giáp ranh, hợp đồng lập ngày 27/01/2011, theo đó cạnh giáp đường xóm khi chuyển nhượng chỉ còn 28,6m, sau đó ông đưa toàn bộ hồ sơ cho ông H1 để ông liên hệ nhờ cấp trên làm thủ tục, các diễn biến sau này ông không biết. Còn đối với 02 hợp đồng sau đó đề ngày 20/8/2011 về việc vợ chồng ông H1 chuyển nhượng cho bà Q diện tích 327m² và hợp đồng ngày 13/9/2011 về việc vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho bà Q diện tích 338m², ông khẳng định không ký vào các hợp đồng trên. Theo ông, lý giải vì sao đã có hợp đồng ngày 27/01/2011 phù hợp với lời trình bày của vợ chồng ông H1, cụ H2, ông T5 (nguyên cán bộ địa chính xã thời điểm đó) đều khẳng định, sau khi không có nhu cầu sử dụng và muốn chuyển nhượng, đầu năm 2011, vợ chồng ông H1 và vợ chồng cụ L2 đã đề nghị, ông T5 đã xuống thực địa các thửa đất để đo đạc, và làm giúp một bộ hợp đồng chuyển nhượng, theo đó vợ chồng ông H1 chuyển nhượng cho bà Q tổng diện tích 371m², vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho bà Q tổng số 437m², tổng diện tích 808m², đã được UBND xã C chứng thực. Tại thời điểm trên, ông T5 và vợ chồng ông H1, cụ H2 đều xác định đã bán và đã có ngõ đi vào nhà ông T1, khi đo ông cũng đã trừ đi kích thước ngõ đi của ông T1, điều đó có nghĩa là phần diện tích bán cho bà Q không bao gồm ngõ đi vào nhà ông T1 và cạnh phía T8 là giáp ngõ đi ông T1 chứ không giáp đất cụ T7 (hay ông T3, bà T2 là con), sau đó hồ sơ đã được chuyển lên Văn phòng đăng ký QSD đất

UBND xã C, huyện T cung cấp: Nguồn gốc đất của vợ chồng cụ L2, vợ chồng ông H1 ở thôn T, quá trình sử dụng và đều được cấp giấy chứng nhận lần đầu ngày 17/10/1995 đúng như các đương sự đã trình bày và hồ sơ địa chính mà địa phương đã cung cấp cho Tòa án. Có việc UBND huyện cấp lại giấy chứng nhận cho vợ chồng ông H1, ông L2 cùng ngày 16/8/2011 và sự việc vợ chồng ông H1, bà Q lập hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/8/2011 với diện tích 327m², ông L2, bà Q lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 13/9/2011 với diện tích 338m², có chứng thực của UBND xã C. Đến ngày 23/11/2011, bà Phạm Thị Q được cấp giấy chứng nhận QSD đất là thửa số 30 tờ bản đồ số 21, tổng diện tích 665m², trong đó có 200m² đất ở, 89m² đất trồng cây lâu năm và 376m² đất nuôi trồng thủy sản. Ngày 17/01/2017, bà Phạm Thị Quy L3 hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho vợ chồng anh T, chị A, được UBND xã C chứng thực, đến ngày 09/02/2017 vợ chồng anh T, chị A được cấp GCNQSD đất với tổng diện tích 665m². Sau khi anh T, chị A có đơn gửi UBND xã, địa phương đã tiến hành thu thập tài liệu, ông T1 xuất trình hai giấy mua bán đất làm ngõ đi của vợ chồng cụ L2, ông H1 ngày 16/02/2010 và cung cấp thêm bản pho to hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 27/01/2011 có chứng thực của UBND xã, có tờ trích đo thửa đất nhưng không có bản chính. UBND xã C không lưu hồ sơ chuyển nhượng này, việc ông T1 có mua đất của vợ chồng ông L2, ông H1 để làm lối đi và đã mua từ lâu. Sau buổi xem xét, thẩm định, định giá và xác định lại ranh giới mốc giới, xác định hiện trạng thửa đất của vợ chồng anh T, chị A ở bốn mặt không có tranh chấp với ai đã xác định được tổng diện tích theo hiện trạng 829,3m². Tuy nhiên giấy chứng nhận chỉ cấp 665m², tăng 164,3m² (không bao gồm phần diện tích anh T, chị A khởi kiện). Nguyên nhân là do quá trình xét các hồ sơ cấp lại, hồ sơ chuyển nhượng qua nhiều người nhưng không đo ngoài thực địa mà chỉ trích lục trên giấy chứng nhận và sai số do tính toán. Do hiện trạng diện tích đất của anh T, chị A không lấn chiếm, không chuyển đổi, chuyển nhượng, diện tích tăng thêm so với giấy nên đề nghị Tòa án chấp nhận diện tích đất theo hiện trạng cho anh chị ấy để đảm bảo quyền lợi cho công dân.

- Kết quả làm việc với Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, Cục T10 khu vực T, đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T đều xác định: Nguồn gốc đất và diễn biến quá trình sử dụng đất của vợ chồng anh T, chị A thì như các đương sự đã trình bày. Văn phòng ĐKQSD đất huyện T cung cấp về nguồn gốc đất của vợ chồng ông H1, cụ L2 như các đương sự và UBND xã C đã trình bày. Có việc UBND huyện T cấp lại hai giấy CNQSD đất cho vợ chồng ông H1, cụ L2 ngày 16/8/2011, tại thời điểm cấp lại, cơ quan chuyên môn không đo hiện trạng vì thủ tục không bắt buộc. Có việc Văn phòng ĐKQSD đất huyện T tiếp nhận hai bộ hồ sơ chuyển nhượng ngày 20/8/2011 và ngày 13/9/2011, không có hợp đồng nào khác ghi ngày 27/01/2011, UBND huyện T và cơ quan chuyên môn cũng không sử dụng hợp đồng ngày 27/01/2011 làm căn cứ chuyển quyền và cấp giấy chứng nhận, thời điểm trên UBND huyện không đo hiện trạng mà chỉ đo hợp thửa (tức đo trên giấy chứng nhận) do đã có giấy chứng nhận, khi bà Q chuyển nhượng cho vợ

chồng anh T, chị A năm 2017 đều không đo đạc lại ngoài thực địa. Trường hợp có việc vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 có bán một phần lối đi cho ông T1 trước đó thì các bên cũng không làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chi cục thuế khu vực T11 xác định trên cơ sở phiếu chuyển thông tin của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất về nghĩa vụ tài chính ngày 19/4/2011, bà Phạm Thị Q đã thực hiện nghĩa vụ tài chính khi nhận chuyển nhượng đất của ông H1, cụ L2 với diện tích 808m², ngày 25/4/2011, Cục T10 đã ra thông báo về việc nộp thuế và lệ phí, bà Q nhận nộp thay cả thuế thu nhập cá nhân cho ông H1, cụ L2. Đến ngày 05/7/2011, bà Phạm Thị Q đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về thuế với nhà nước được thể hiện tại 02 giấy nộp tiền vào ngân sách số 0005280 và 0005281, sau đó cơ quan thuế không ra thông báo bổ sung, thay đổi nghĩa vụ tài chính đối với bà Phạm Thị Q khi nhận chuyển nhượng cùng một thửa đất trên. UBND huyện T có quan điểm, trường hợp diện tích anh T, chị A nhận chuyển nhượng tăng thêm so với giấy mà ranh giới đất đang sử dụng không thay đổi, không có tranh chấp với các hộ liền kề thì được công nhận và người sử dụng không phải nộp tiền đối với diện tích chênh lệch nhiều hơn.

Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất ngõ đi theo xác định của anh T, và phần vườn ông T3, bà T2 là đất của bà Phạm Thị Q mà nguyên đơn đã mua, nằm trên giấy chứng nhận. Việc vợ chồng ông T1 mua phần ngõ đi của vợ chồng ông H1, cụ L2 không làm thủ tục theo quy định, không được nhà nước thừa nhận nên không có giá trị. Bà Q nhận chuyển nhượng là nguyên thửa, bà Q chuyển nhượng cho nguyên đơn cũng nguyên thửa, đã được nhà nước thừa nhận, cấp giấy. Thửa đất của vợ chồng ông T1 vẫn có lối đi cũ, không thuộc trường hợp bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề khác. Anh T6, chị A mua lại đất của bà Q được xác định bên thứ ba ngay tình, giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý, vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông T1, bà L phải trả diện tích ngõ đi 43,7m², buộc ông T3, bà T2 phải trả diện tích 8,7m². Nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đòi bà Q số tiền 59.000.000 đồng, đề nghị Tòa án xác nhận vợ chồng anh T6, chị A được quyền sử dụng diện tích đất theo hiện trạng 829,3m², không phải nộp tiền. Nguyên đơn nhất trí với luận cứ của luật sư, không bổ sung gì thêm.

Bị đơn và người đại diện không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng đất ngày 16/02/2010 giữa vợ chồng ông và vợ chồng cụ L2, ông H1 có giá trị. Giao diện tích đất 43,7m² (phần đất tranh chấp ) và 15m² (nằm ngoài phần tranh chấp) cho vợ chồng ông được quyền sử dụng.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng đến trước thời điểm nghị án và đề nghị HĐXX căn cứ các khoản 3 Điều 210 Luật Đất đai năm 2013; Điều 688, Điều 693, Điều 694, Điều 695, Điều 696 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1

điều 39, Điều 74, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T và chị Trần Thị A về việc buộc ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L phải trả diện tích 43,7m², không chấp nhận yêu cầu của anh T, chị A về việc buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn T3, bà Vũ Thị T2 phải trả diện tích 8,7m²
  2. Công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị N; vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Vũ Thị H2 với vợ chồng ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L ngày 16/02/2010 có giá trị pháp lý. Giao cho ông Nguyễn Trung T1 được sử dụng diện tích đất 26,7m² của vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N và sử dụng diện tích 17,7m² (phần đang tranh chấp) và 14,3m² nằm ngoài phần tranh chấp của vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Vũ Thị H2.
  3. Chấp nhận việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối bà Phạm Thị Quy . Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T và chị Trần Thị A về việc buộc bà Phạm Thị Q phải trả số tiền 59.000.000đ.
  4. Công nhận diện tích 829,3m² đất, có kích thước các cạnh và được giới hạn bởi các điểm từ A3,A4,A5,A6,A17,A18,A19,A20,A15, A16,A1,A2 đến A3 thuộc quyền sử dụng của anh Vũ Văn T, chị Trần Thị Anh .1
  5. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A về việc chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản.
  6. Về án phí: Anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; cụ Vũ Thị H2, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị H3, bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Mạnh H1, bà Vũ Thị N3, bà Vũ Thị T2 (vừa đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T3), ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa và đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt những người nêu trên
  2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A với ông Nguyễn Trung T1 là tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất, tranh chấp giữa anh T, chị A với bà Phạm Thị Q và yêu cầu khởi kiện của ông T1 là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận diện tích đất đã nhận chuyển nhượng; Thửa đất tọa lạc tại thôn T, xã C,

huyện T, tỉnh Hải Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ theo quy định tại khoản 9 Điều 26; Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về nguồn gốc đất của vợ chồng anh T, chị A: Căn cứ vào tài liệu do UBND xã C cung cấp và Tòa án đã thu thập được xác định: Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 21, diện tích 665m² tọa lạc tại thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương đã được UBND huyện T, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận ngày 09/02/2017 đứng tên vợ chồng là do anh chị nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị Q ngày 17/01/2017. Toàn bộ thửa đất trên trước đây là của vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N và một phần đất của vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Vũ Thị H2, đều được đăng ký trong hồ sơ 299 và đến ngày 17/10/1995 đều được cấp giấy chứng nhận lần đầu. Theo đó vợ chồng ông H1, bà N được cấp giấy đối với các thửa số 29, 30, 31 tờ bản đồ số 3, tổng diện tích 327m²; vợ chồng cụ L2, cụ H2 được cấp các thửa số 24, 25 tổng diện tích 1081m² đều ở tờ bản đồ số 3 thôn T, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  2. Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng, xác nhận mốc giới thấy rằng: Thửa đất mà anh T, chị A đang sử dụng có hiện trạng phía Bắc giáp phần đất của vợ chồng cụ L2, cụ H2 không có gì phân định, tuy nhiên đã được cụ H2 (vợ cụ L2 ra xác định ranh giới mà trước đây vợ chồng cụ bán đất cho bà Q, được anh T thống nhất từ điểm A2 kéo đến A1,A16 đến A15) là ranh giới phân định; phía Nam giáp đường xóm đã xây tường bao; phía Đông giáp ngõ đã đổ bê tông là lối đi vào đất cụ L2, cụ H2 (anh chị đã xây tường bao); phía Tây giáp ngõ đi mà vợ chồng ông T1, bà L đang sử dụng, vợ chồng anh T cũng đã xây tường bao gạch ba banh cao 1,2m. Theo anh T tự xác định ranh giới, mốc giới ngoài thực địa, cạnh giáp đường xóm vượt qua ngõ đi của vợ chồng ông T1 sang đến điểm đầu tường bao của vợ chồng ông T3, bà T2 (Từ điểm A3 kéo thẳng đến điểm A8) trên sơ đồ; cạnh phía Bắc, từ điểm A15 mà cụ H2, anh T đã thống nhất kéo đến điểm A14, nối từ điểm A8 đến A9,A22 đến A14 là diện tích đất mà anh T, chị A cho rằng đã nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị Q năm 2017 và nằm trên giấy chứng nhận của vợ chồng anh; Trong đó phần diện tích 43,7m² mà vợ chồng ông T1, bà L đang sử dụng làm ngõ đi, được giới hạn bởi các điểm từ A6, A17,A18,A19,A20,B1,A15,A14,A22,A9,A21,A7 đến A6; phần diện tích 8,7m² được giới hạn bởi các điểm từ A7,A8,A9,A21 đến A7 do vợ chồng ông T3, bà T2 đang quản lý, sử dụng là của vợ chồng anh và buộc những người trên phải trả lại.
  3. Xét các yêu cầu khởi kiện của vợ chồng anh T, chị A, HĐXX thấy rằng:
  4. Trước khi chuyển nhượng đất cho bà Q, ngày 16/02/2010, vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho vợ chồng ông T1, bà L, có làm giấy biên nhận. Theo đó vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho ông T1, bà L diện tích 28,70m² với giá là 2.870.000 đồng và ông H1, bà N chuyển nhượng cho ông T1, bà L diện tích 24m² với giá 2.400.000 đồng, có ông Vũ Hồng K1 và ông Hà Hải N1 ở cùng xóm làm chứng và ký vào giấy mua bán. Vợ chồng

ông T1 đã trả tiền đầy đủ cho vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1. Ngay sau khi nhận đất, trả tiền xong, vợ chồng ông T1, bà L đã xây bờ be hai bên bằng gạch ba banh, đổ đất, cát và trạt bê tông, ở điểm đầu ngõ, vợ chồng ông H1 cho thêm ông T1, bà L một ít đất theo hình rẻ quạt để ông T1, bà L đổ trạt cua ra, cua vào cho đỡ bị tai nạn. Về phía đất của ông T3, bà T2, theo ông H1, bà N, ông T3, bà T2, cụ H2, khi ông T1 xây bờ be, các bên có ra thực địa, xác định ranh giới mốc giới giáp ranh để ông T1 làm ngõ đi. Việc ông T1 xây bờ be bằng gạch ba banh (khoảng 3 đến 4 hàng từ dưới đáy lên mặt ngõ) là xây đúng ranh giới đất (tức hết đất của vợ chồng cụ H2, ông H1 giáp ranh với đất ông T3, bà T2). Đầu ngõ đi giáp đường xóm rẽ phải từ ngõ ra hẹp nên ông T3, bà T2 cho ông T1 mượn đất, trạt thêm ra theo hình rẻ quạt để cua ra, cua vào cho thuận lợi. Tài liệu do ông T1 xuất trình phù hợp với lời trình bày của vợ chồng ông H1, cụ H2 (các chủ đất còn sống) và những người làm chứng ông N1, ông K1 xác nhận. Như vậy, có đủ căn cứ xác định từ điểm A7,A21,A9,B2,A10,A11 trên sơ đồ đo vẽ là ranh giới đất của vợ chồng ông H1, cụ L2 và vợ chồng ông T3, bà T2.

  1. Việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 cho bà Phạm Thị Quy . Sau khi vợ chồng ông H1, cụ L2 bán phần diện tích đất cho vợ chồng ông T1 làm ngõ đi năm 2010, năm 2011 vợ chồng ông H1 chuyển nhượng diện tích còn lại, vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng một phần diện tích đất đều cho bà Phạm Thị Quy . Theo tài liệu do UBND xã C và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp cho Tòa án thể hiện; ngày 20/8/2011 vợ chồng ông H1 chuyển nhượng cho bà Q diện tích 327m² và ngày 13/9/2011 vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho bà Q diện tích 338m², tổng diện tích đất cộng lại là 665m², các hợp đồng này có chứng thực của UBND xã C và sau này UBND huyện căn cứ vào hai hợp đồng trên để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận cho bà Phạm Thị Quy . Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T khẳng định không có hợp đồng và không sử dụng hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/01/2011 về việc vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 cùng chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Q diện tích đất 808m². Tuy nhiên ông T1 xuất trình một bản hợp đồng pho to được đánh máy, đề ngày 27/01/2011 phù hợp với lời trình bày của vợ chồng ông H1, cụ H2, ông T5 (nguyên cán bộ địa chính xã thời điểm đó) đều khẳng định, sau khi không có nhu cầu sử dụng và muốn chuyển nhượng, đầu năm 2011, vợ chồng ông H1 và vợ chồng cụ L2 đã đề nghị, ông T5 đã xuống thực địa các thửa đất để đo đạc, và làm giúp một bộ hợp đồng chuyển nhượng, theo đó vợ chồng ông H1 chuyển nhượng cho bà Q tổng diện tích 371m², vợ chồng cụ L2 chuyển nhượng cho bà Q tổng số 437m², tổng diện tích 808m², đã được UBND xã C chứng thực. Tại thời điểm trên, ông T5 và vợ chồng ông H1, cụ H2 đều xác định đã bán và đã có ngõ đi vào nhà ông T1, khi đo ông cũng đã trừ đi kích thước ngõ đi của ông T1, điều đó có nghĩa là phần diện tích bán cho bà Q không bao gồm ngõ đi vào nhà ông T1 và cạnh phía T8 là giáp ngõ đi ông T1 chứ không giáp đất cụ T7 (hay ông T3, bà T2 là con), sau đó hồ sơ đã được chuyển lên Văn phòng đăng ký QSD đất

huyện T. Mặc dù UBND xã C và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T đều xác định không có, không sử dụng hợp đồng ngày 27/01/2011, tuy nhiên ngày 19/4/2011, Văn phòng ĐKQSD đất huyện T đã có phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính số 146/PC-VPĐK gửi Chi Cục thuế huyện T, theo đó người phải thực hiện nghĩa vụ tài chính là bà Phạm Thị Q đối với thửa đất số 30, tờ bản đồ số 21, tổng diện tích 808m², trong đó có 200m² đất ở, 372m² đất vườn và 236m² đất ao nuôi trồng thủy sản, lý do phải nộp thuế do nhận chuyển nhượng. Trên cơ sở đó Chi cục thuế huyện T đã ra thông báo số 126/TB-CCT ngày 25/4/2011 về việc nộp lệ phí trước bạ và thông báo số 119/TB-CCT ngày 25/4/2011 đến người phải nộp thuế là bà Phạm Thị Q (bà Q nộp thay cả thuế thu nhập cá nhân cho người chuyển nhượng), các thông tin về diện tích, loại đất dựa trên Thông báo của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất- Phòng TNMT huyện Tứ Kỳ. Đến ngày 05/7/2011, bà Phạm Thị Q đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về thuế với nhà nước được thể hiện tại 02 giấy nộp tiền vào ngân sách các số 0005280 và 0005281. Như vậy, phải có hợp đồng chuyển nhượng thì Văn phòng đăng ký mới có sơ sở xác định diện tích, loại đất và các loại thuế, phí gửi Chi cục thuế T được. Vì vậy, về bản chất vợ chồng cụ L2 và vợ chồng ông H1 có ký hợp đồng chuyển nhượng tổng diện tích 808m² cho bà Phạm Thị Q từ ngày 27/01/2011. Sau đó hồ sơ chuyển nhượng này bị thất lạc nên vợ chồng ông H1, vợ chồng cũ L2 mới phải xin cấp lại giấy chứng nhận và sau khi được cấp giấy chứng nhận mới tiếp tục chuyển nhượng được, do đó Hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/8/2011 và hợp đồng ngày 13/9/2011 chỉ là hợp đồng hợp thức hóa việc chuyển nhượng mà các bên đã thỏa thuận thống nhất trước đó, Văn phòng đăng ký cũng xác nhận thời điểm cấp lại giấy chứng nhận cho vợ chồng ông H1, vợ chồng cụ L2 và thời điểm làm thủ tục chuyển nhượng sang cho bà Q, cơ quan chuyên môn không đo đạc hiện trạng mà chỉ trích lục (trích đo) trên giấy chứng nhận. Chính vì vậy mà diện và kích thước trên giấy chứng nhận đã cấp cho bà Q không đúng với kích thước và diện tích ngoài thực địa. Khi bà Q lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho anh Vũ Văn T và chị Trần Thị A ngày 17/01/2017, thời điểm trên cơ quan chuyên môn cũng không đo đạc ngoài thực địa, theo Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T vì thửa đất bà Q đã được cấp giấy chứng nhận. Từ những chứng cứ nêu trên cho thấy trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận có nhiều thiếu sót, chưa chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật, như bà Q đã nộp thuế chuyển quyền theo diện tích đất nhận chuyển nhượng nhưng lại không được cơ quan chuyên môn sử dụng hợp đồng đó, các hợp đồng được cơ quan chuyên môn sử dụng làm căn cứ làm thủ tục và cấp giấy thì không được đo đạc, không đúng với hiện trạng, các bên tham gia giao dịch thì không kiểm tra kỹ trước và sau khi giao dịch. Mặc dù vậy, nhưng các bên vẫn chấp nhận, không có ý kiến gì về hồ sơ, hiện trạng thửa đất với cơ quan có thẩm quyền. Từ đó có đủ căn cứ xác định bà Q nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông H1, cụ L2 và sau này anh T, chị A nhận chuyển nhượng đất của bà Q là theo hiện trạng thửa đất.

  1. Xét giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/02/2010 giữa vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Vũ Thị H2 và vợ chồng ông Nguyễn Văn H5, bà Nguyễn Thị N với vợ chồng ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L được ký kết trước khi vợ chồng cụ L2, ông H5 bán đất cho bà Q là gần 01 năm, việc giao dịch là tự nguyện, các bên đủ năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Mặc dù giao dịch giữa các bên vi phạm về hình thức của hợp đồng và không được công chứng, chứng thực theo điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003 nhưng các bên đã giao nhận đất, trả đủ tiền cho nhau, vợ chồng ông T1, bà L đã trực tiếp sử dụng làm lối đi ổn định, liên tục từ năm 2010 đến trước thời điểm anh T, chị A khởi kiện là hơn 13 năm không có tranh chấp. Căn cứ theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật và có vi phạm quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, trong trường hợp này các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực. Thực tế, khi bà Q nhận chuyển nhượng các diện tích đất của vợ chồng ông H5 và vợ chồng cụ L2, cũng như khi vợ chồng anh T, chị A nhận chuyển nhượng của bà Q. Vợ chồng ông T1 đã mua và sử dụng lối đi trên công khai, bản thân bà Q, vợ chồng anh T và mọi người đều biết, không có ý kiến, phản đối gì. Chính bản thân vợ chồng anh T là người trước đó sống cùng xóm, hàng ngày đi qua đều nhìn thấy ngõ đi, khi mua đất của bà Q có ra trực tiếp thực địa xem đất đã biết có ngõ đi ông T1, anh chị còn xây cả tường bao ngăn cách giữa ngõ đi và đất của anh chị. Vì vậy anh T, chị A yêu cầu buộc vợ chồng ông T1 phải trả lại đất là không có căn cứ chấp nhận.
  2. Căn cứ vào biên bản thẩm định tại chỗ, lời khai của các đương sự, thấy rằng, sau khi vợ chồng ông T1 mua đất của vợ chồng ông H5, cụ L2 đã xây tường be bằng gạch ba banh hai bên, mỗi bên cao 15cm, ở giữa đổ cát và trạt xi măng, hiện trạng bờ be giáp vườn ông T3, bà T2 vẫn còn hàng gạch nổi trên mặt ngõ. Tòa án cùng với địa phương đào vị trí giáp với chân tường mà anh T, chị A xây xác định có hàng gạch ba banh mà ông T1 xây bờ be nằm sát, song song với tường của anh T, chạy thẳng từ trong ra đến đường xóm (có chụp ảnh lưu hồ sơ). Khi ông T1 xây tường bờ be làm ngõ đi, vợ chồng ông H5, vợ chồng cụ L2, ông T3, bà T2 có mặt xác định mốc giới để ông T1 làm ngõ đi, ông T1 xây đúng mốc giới, hết đất của vợ chồng ông H5, cụ L2, các bên không có tranh chấp gì. Phù hợp với kết quả kiểm tra hiện trạng cạnh đất của vợ chồng ông T3, bà T2 giáp đường xóm kéo từ mép tường nhà bà K2 (em gái ông T3 từ Tây sang Đ xấp xỉ 12m), hơn nữa trên phần đất mà anh T, chị A cho rằng là đất của bà Q đã bán cho anh còn có các cây cau ta trồng lâu đời của cụ T7 (bố ông T3). Anh T6 đưa ra quan điểm cho rằng phần diện tích đất 8,7m² ở bên vườn bà T2, ông T3 là đất do anh đã mua của bà Q và yêu cầu bà T2, ông T3 phải trả phần diện tích này là không có căn cứ và không có cơ sở chấp nhận.
  1. Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định hiện trạng, theo xác định mốc giới của nguyên đơn và các tài liệu do Tòa án thu thập đã xác định được diện tích mà vợ chồng anh T6, chị anh khởi kiện ông T1 phải trả lại là 43,7m² có nguồn gốc là do vợ chồng ông H5 và vợ chồng cụ H2 chuyển nhượng cho năm 2010. Tòa án đã yêu cầu đơn vị đo đạc lồng ghép với giấy chứng nhận và bóc tách hai phần diện tích, đã xác định phần đất của vợ chồng ông H5 là 26,7m² (trong đó 26m² nằm trong phần tranh chấp, 0,7m² nằm ngoài phần tranh chấp), phần đất của cụ L2, cụ H2 là 17,7m² (phần tranh chấp) và diện tích 14,3m² nằm ngoài phần tranh chấp nằm trên ngõ đi mà vợ chồng ông T1 sử dụng. Lý giải phần diện tích đất vợ chồng ông H5 bán cho vợ chồng ông T1 theo giấy bán ngày 16/02/2010 là 24m², diện tích tăng lên có thể do đạc thủ công không chính xác, hơn nữa, vợ chồng ông H5 xác định cho thêm ông T1 ít đất ở đầu ngõ hình rẻ quạt để ông bà ấy cua ra cua vào cho thuận tiện. Đối với diện tích đất của cụ H2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T1 ngày 16/02/2010 là 28,7m², nay đo đạc là 32m² (trong đó có 17,7m² đất tranh chấp), phần nằm ngoài vùng tranh chấp 14,3m² giáp về phía ao ông T4, đất ông T3, bà T2. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông Vũ Mạnh T4 (bố anh T6) xác nhận mốc giới giữa ao của ông và bờ tường ngõ đi ông T1 là đúng ranh giới, không có tranh chấp. Cụ Nguyễn Văn L2 đã chết ngày 20/9/2016, không để lại di chúc, cụ H2 và các con của cụ L2, cụ H2 gồm ông C, bà H3, bà L1, bà H4, bà P (là người thừa kế của cụ L2) và vợ chồng ông H5 đều nhất trí với quan điểm của ông T1, công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất gữa vợ chồng cụ H2 và vợ chồng ông H5 với vợ chồng ông T1 ngày 16/02/2010 có giá trị pháp lý và công nhận tổng diện tích đất 58,7m² (của vợ chồng ông H5 26,7m², của vợ chồng cụ H2 32m² ở thôn T, xã C) thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L. Chấp nhận sự tự nguyện của cụ H2 và các hàng thừa kế và vợ chồng ông H5, bà N không yêu cầu, đề nghị vợ chồng ông T1 phải trả giá trị diện tích đất tăng thêm.
  2. Quá trình giải quyết vụ án, anh T6, chị A khởi kiện bổ sung trong trường hợp không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, anh T6, chị A đề nghị Tòa án buộc bà Phạm Thị Q phải trả lại số tiền 59.000.000 đồng do bán đất thiếu cho anh chị. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút phần yêu cầu này đối với bà Phạm Thị Quy . Xét thấy việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 BLTTDS. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh T6, chị A về việc đòi bà Phạm Thị Q phải trả số tiền 59.000.000đ. Nếu sau này anh, chị khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Anh T6, chị A không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử và được trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.
  3. Sau khi Tòa án làm việc với UBND xã C, đại diện của UBND huyện T xác định, hiện trạng anh T6, chị A đang quản lý sử dụng diện tích 829,3m², so với giấy chứng nhận mà UBND huyện đã cấp cho bà Q, sau này bà Q bán cho anh chị

có diện tích 665m² thì diện tích chênh lệch, tăng lên 164,3m² (không tính phần đất đang tranh chấp). Nguyên nhân là do khi các cơ quan chuyên môn của UBND huyện xem xét các hồ sơ xin cấp lại, hồ sơ chuyển nhượng qua nhiều người nhưng không đo đạc lại ngoài thực địa mà chỉ trích lục trên giấy chứng nhận. Do hiện trạng khuôn viên đất mà vợ chồng anh T6, chị A không lấn chiếm, không chuyển đổi, chuyển nhượng với những người sử dụng đất liền kề, diện tích thực tế tăng so với diện tích ghi trên giấy chứng nhận nên diện tích đất của anh T6, chị A được xác định theo diện tích đất thực tế đang sử dụng mà không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích đất tăng thêm. Việc xác định chính xác diện tích đất cho người sử dụng đất thuộc về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, vì vậy cần xác định diện tích đất theo hiện trạng 829,3m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chồng anh T6, chị A mà không phải nộp tiền đối với diện tích đất tăng thêm mới đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn.

  1. Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng anh T6, chị A đã phi phí 4.700.000 đồng tiền xem xét, thẩm định, đinh giá (khoản tiền này anh T6, chị A đã nộp và chi phí xong). Anh T6, chị A tự nguyện chịu cả số tiền này, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không phải giải quyết.
  2. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ông T1, bà L (bao gồm cả phần diện tích đất ông T3, bà T2) là tranh chấp mốc giới quyền sử dụng đất không được chấp nhận nên anh T6, Anh phải chịu án phí không có giá ngạch tại Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thượng vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 105, 107, 136, điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003; các Điều 166; 170, 203 Luật đất đai năm 2013; các điều 129, 175; 176 Bộ luật Dân sự; khoản 9 Điều 26; Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A về việc buộc ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L phải trả diện tích đất ngõ đi có diện tích 43,7m² và không chấp nhận yêu cầu của anh T, chị A về việc buộc ông Nguyễn Văn T3, bà Vũ Thị T2 phải trả lại diện tích đất 8,7m².
  2. Công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1 và bà Nguyễn Thị N; vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2 và cụ Vũ Thị H2 với vợ chồng ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L ngày 16/02/2010 có giá trị pháp lý.

Giao cho ông Nguyễn Trung T1, bà Nguyễn Thị L được sử dụng diện tích 26,7m² đất của vợ chồng ông Nguyễn Mạnh H1, bà Nguyễn Thị N có hình thể, kích thước như sơ đồ hình vẽ, được giới hạn bởi các điểm A6,A17,A18,A19,A20,B1,A22, B2,A9,A21,A7 đến A6 và diện tích 32m² đất của vợ chồng cụ Nguyễn Văn L2, cụ Vũ Thị H2 có hình thể, kích thước như sơ đồ hình vẽ, được giới hạn bởi các điểm B1,A15,A14,A13,A12,A11,A10,B2,A22 đến B1. Tổng diện tích 58,7m² và toàn bộ tài sản, công trình gắn liền với đất, được giới hạn bởi các điểm từ A6,A17,A18,A19,A20,B1,A15,A14,A13,A12,A11,A10,B2,A9,A21,A7 đến A6. Chấp nhận sự tự nguyện của cụ H2 và các hàng thừa kế và vợ chồng ông H1, bà N không yêu cầu, đề nghị vợ chồng ông T1 phải trả giá trị diện tích đất tăng thêm.

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của anh Vũ Văn T và chị Trần Thị A về việc buộc bà Phạm Thị Q phải số tiền 59.000.000 đồng do bán thiếu đất, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của BLTTDS.
  2. Công nhận diện tích 829,3m² đất, có hình thể, kích thước các cạnh như sơ đồ hình vẽ, được giới hạn bởi các điểm từ A3,A4,A5,A6,A17,A18,A19,A20,B1,A15, A16,A1,A2 đến A3 thuộc quyền sử dụng vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Trần Thị Anh .1

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được hướng dẫn đăng ký và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

(Có sơ đồ đo vẽ chi tiết kèm theo)

  1. Về tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Vũ Văn T, chị Trần Thị Anh C1 toàn bộ tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản 4.700.000 đồng (số tiền này anh T đã nộp đủ và chi phí xong).
  2. Về án phí: Anh Vũ Văn T, chị Trần Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Được đối trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003332 ngày 10/4/2023. Trả lại anh Vũ Văn T 1.480.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000078 ngày 14/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tứ Kỳ;
  • - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ;
  • - Các đương sự, người bảo vệ QLIHPĐS;
  • - UBND xã Cộng Lạc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận giao dịch chuyển nhượng đất

  • Số bản án: 17/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công nhận giao dịch chuyển nhượng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Vũ Văn T và chị Trần Thị Anh khởi kiện tranh chấp đất đai với ông Nguyễn Trung T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger