Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ THANH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Tuấn

Bà Lê Thị Giang

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa và điểm cầu thành phần đặt tại nhà tạm giữ của Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trọng T, sinh ngày 10/10/1975; tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: 283, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D (đã chết); vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không;

Tiền án: 06

  • Năm 1995 Nguyễn Trọng T bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 11 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bị cáo kháng cáo). Năm 1996 T bị Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xử phúc thẩm, xử phạt y án 11 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong ngày 02/9/2000).
  • Năm 2002 T bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong ngày 05/4/2005).
  • Năm 2006 T bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong ngày 16/3/2009).
  • Năm 2010 T bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 09 tháng tù giam về tội không tố giác tội phạm (đã chấp hành xong).
  • Năm 2012 T bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong ngày 28/02/2022).
  • Năm 2013 T bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 11 năm 03 tháng 25 ngày tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (tổng hợp Bản án số 42 ngày 10/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hoàng Hóa, tỉnh Thanh Hóa) (đã chấp hành xong ngày 28/02/2022).

Nhân thân: Năm 1993 Nguyễn Trọng T bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Quang T2, sinh ngày 26/9/1986; tại huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trương Văn H, sinh năm 1952 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; vợ là Trần Thị L, sinh năm 1987 (đã ly hôn); có 03 con, con lớn sinh năm 2010; con nhỏ sinh năm 2018; Tiền sự: Không;

Tiền án: Năm 2022 Trương Quang T2 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong ngày 16/3/2023).

Nhân thân:

  • Năm 2005 Trương Quang T2 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong).
  • Năm 2009 Trương Quang T2 bị Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong).
  • Năm 2014 Trương Quang T2 bị Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong).
  • Năm 2020 Trương Quang T2 bị Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/4/2024 đến ngày 09/4/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Cao Thị V, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T3, sinh năm 1976 Nơi cư trú: Thôn F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng C1, sinh năm 1959

Địa chỉ: 7 D, phố A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 01/4/2024 Trương Quang T2, sinh năm 1986 trú tại thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa đến nhà Nguyễn Trọng T, sinh năm 1975 trú tại B N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa rủ đi trộm cắp tài sản và được T đồng ý (T2 và T là bạn của nhau). T2 điều khiển và chở T bằng chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 36AC-066.23 của T, di chuyển trên các tuyến đường: Thành phố T, huyện T, huyện T và huyện N với mục đích tìm kiếm sơ hở của người dân nhằm trộm cắp tài sản. Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày, khi T2 và T di chuyển trên tỉnh lộ 514 thuộc địa phận thôn C, xã C, huyện N thì phát hiện chiếc mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B5-421.02 của chị Cao Thị V, sinh năm 2004, trú tại thôn F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đang dựng ở vỉa hè ven đường, trước Trung tâm dạy học tiếng Hàn Quốc trong tình trạng chìa khóa đang cắm trên xe (bên phải đường theo hướng đi của các bị cáo từ UBND xã C đến huyện N). T2 điều khiển xe vòng quay lại, để quan sát kỹ vị trí của chiếc xe và quan sát người xung quanh. Khi T2 điều khiển xe đến gần Trung tâm dạy học thì T nhảy xuống khỏi xe. T2 đỗ xe, đứng chờ và cảnh giới cho T ở đoạn đường phía trên theo hướng từ Trung tâm dạy học đi huyện N, đầu xe hướng về UBND xã C. Trong khi đó T tiếp cận vị trí chiếc xe trước vỉa hè, nhưng do có người qua lại Trung tâm dạy học nên T đi sang lề đường phía đối diện, đứng ở dưới bóng cây để quan sát người đi đường. Đồng thời T2 điều khiển xe mô tô đi qua chỗ T đứng, tiếp tục đứng chờ và cảnh giới cho T ở đoạn đường phía dưới, hướng về UBND xã C. Khi vắng người qua lại T tiếp cận chiếc xe mô tô và dắt xuống lòng đường, nổ máy đi về hướng UBND xã C. Trương Quang T2 cũng chủ động điều khiển xe Honda Vision để rời khỏi hiện trường.

Trương Quang T2 và Nguyễn Trọng T điều khiển 02 chiếc xe mô tô đi từ hướng UBND xã C ra huyện T, tiếp tục di chuyển vào các cung đường nhỏ hơn, khi đến xã Đ, huyện T, T và T đổi xe cho nhau, T2 đưa chiếc áo khoác ngoài màu đen cho T mặc. Hai đối tượng tiếp tục di chuyển qua huyện Đ về phường Đ, Thành phố T. Tại đây, T2 dẫn T đến nhà ông Nguyễn Hồng C1 là người quen của T2 gửi chiếc xe mô tô trộm cắp để tìm nơi tiêu thụ (trước khi gửi, T2 tháo BKS của xe để tránh bị phát hiện). Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T2 và T quay lại nhà ông C1 lấy chiếc xe đi tìm nơi tiêu thụ trên địa bàn Thành phố T, nhưng không bán được. Buổi tối cùng ngày, hai đối tượng mang chiếc xe về nhà T cất giấu. Sáng ngày 02/4/2024, lo sợ việc bị người dân phát hiện có xe lạ nên T2 và T đã bàn bạc với nhau mang chiếc xe ra nhà xe của Bệnh viện Đ, Thành phố T để gửi.

Đến 20 giờ ngày 02/4/2024 căn cứ kết quả điều tra ban đầu, qua hình ảnh Camera thu giữ được, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tìm ra dấu vết là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B5-421.02 bị trộm cắp được T2 và T gửi tại Bệnh viện Đ, Thành phố T, nên đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Trọng T, đồng thời triệu tập Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 về trụ sở Công an huyện N để làm rõ hành vi trộm cắp tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 02/HĐ-ĐGTS, ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N, kết luận: Giá trị của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu sơn Đỏ Đen, biển kiểm soát: 36B5-421.02 có giá trị là 23.000.000₫ (Hai mươi ba triệu đồng).

Tại bản kết luận giám định số 2364/KL-KTHS ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

  • Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video của 01 (một) USB và 01 (một) đĩa DVD gửi giám định.
  • Trích xuất 10 (mười) ảnh từ các tệp video gửi giám định.

* Trách nhiệm dân sự: Chị Cao Thị V đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu sơn: Đỏ Đen, biển kiểm soát: 36B5-421.02, không yêu cầu gì về phần dân sự.

* Thu giữ, xử lý vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH Mode, màu sơn: Đỏ Đen, biển kiểm soát 36B5-421.02 thuộc sở hữu hợp pháp của bà Lê Thị T3, sinh năm 1976 trú tại THÔN F, XÃ C, HUYỆN N, TỈNH THANH HÓA (mẹ ruột của bị hại Cao Thị V).

Ngày 15/4/2024 chị Cao Thị V được bà T3 ủy quyền đã có Đơn xin nhận lại tài sản có xác nhận của Công an xã C. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Nhập kho vật chứng theo quy định của pháp luật các vật chứng sau:

  • Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 36AC-066.23 của Nguyễn Trọng T, xác định là công cụ phương tiện sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
  • Phong bì niêm phong vật chứng (USB và đĩa DVD) sau giám định.

* Các vấn đề khác vụ án: Đối với ông Nguyễn Hồng C1, tại thời điểm Trương Quang T2 và Nguyễn Trọng T mang chiếc xe máy đến gửi, thì ông C1 hoàn toàn không biết chiếc xe máy là do T2 và T phạm tội mà có. Khi Cơ quan điều tra làm việc, ông C1 đã phối hợp khai báo, cung cấp thông tin và 02 file video về việc T2 và T đến gửi và lấy xe máy. Do đó, ông Nguyễn Hồng C1 không có hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSNT ngày 08/7/2024 củ A Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa truy tố Trương Quang T2 theo khoản 1 Điều 173 BLHS và Nguyễn Trọng T theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS về tội “Trộm cắp tài sản”.

Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện N, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo; sau khi xem xét tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt Nguyễn Trọng T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên phạt Trương Quang T2 từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về dân sự: Không xem xét.

- Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại chị Cao Thị V đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định: Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định do cần tiền để tiêu sài cá nhân nên đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của bị hại để chiếm đoạt tài sản. Vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 01/4/2024 Trương Quang T2 chở Nguyễn Trọng T bằng xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 36AC-066.23 của T đi trộm cắp tài sản tại địa phận thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, T2 và T đã có hành vi lén lút lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH mode, màu đỏ đen, biển kiểm soát 36B5-421.02 dựng ở vỉa hè ven đường của chị Cao Thị V, trú tại thôn F, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, trị giá 23.000.000₫ (Hai mươi ba triệu đồng).

Các bị cáo ý thức rõ việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, do lười lao động lại muốn có tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Trương Quang T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Trọng T phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ra tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do vậy, phải xử các bị cáo mức hình phạt nghiêm, tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án có nhiều bị cáo cùng tham gia, song không có sự bàn bạc và cấu kết chặt chẽ với nhau nên thuộc dạng đồng phạm giản đơn.

- Trương Quang T2 là người chủ mưu, khởi xướng, giữ vai trò chính trong vụ án.

- Nguyễn Trọng T trực tiếp trộm cắp, giữ vai trò sau bị cáo T2 trong vụ án.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

-Về tình tiết tăng nặng:

  • Bị cáo Trương Quang T2, năm 2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nên lần phạm tội này là "Tái phạm", quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Trọng T: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trương Quang T2 có bố ông Trương Văn H được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất đã có thành tích trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trương Quang T2 và Nguyễn Trọng T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T2 và T.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 36AC-066.23 của Nguyễn Trọng T, là công cụ, phương tiện sử dụng thực hiện hành vi phạm tội tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • Phong bì niêm phong vật chứng (USB và đĩa DVD) sau giám định, đây là chứng cứ vụ án nên lưu trong hồ sơ.

[9] Các vấn đề khác vụ án: Đối với ông Nguyễn Hồng C1, tại thời điểm Trương Quang T2 và Nguyễn Trọng T mang chiếc xe mô tô đến gửi, thì ông C1 hoàn toàn không biết chiếc xe là do T2 và T phạm tội mà có. Khi Cơ quan điều tra làm việc, ông C1 đã phối hợp khai báo, cung cấp thông tin và 02 file video về việc T2 và T đến gửi và lấy xe. Do đó, ông Nguyễn Hồng C1 không có hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự với Nguyễn Trọng T.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự với Trương Quang T2.

Tuyên bố: Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt:

- Nguyễn Trọng T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/4/2024.

- Trương Quang T2 17 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 36AC-066.23, mang tên của Nguyễn Trọng T.
  • Phong bì niêm phong vật chứng (USB và đĩa DVD) sau giám định, đây là chứng cứ vụ án nên lưu trong hồ sơ.

Các vật chứng trên đều đang quản lý tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số số: 21/2024/TSTV ngày 10/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định lệ phí, án phí Toà án.

Buộc Nguyễn Trọng T và Trương Quang T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Như Thanh;
  • - CQĐT Công an huyện Như Thanh.;
  • - Cơ quan THAHS huyện Như Thanh;
  • - Chi cục THADS huyện Như Thanh.;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng T, Trương Quang T2 - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger