Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 17/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Võ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu
  2. Nguyễn Văn Hóa

-Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Thất Nhật Tài- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Ngọc Minh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/HSST ngày 21 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 05/7/2024 đối với bị cáo:

Đặng C (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01/11/1976 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng L – sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị L1 - sinh năm 1946; Vợ:Trương Thị Mỹ P, sinh năm 1978; Con: có 01 người con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Đặng C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Nguyễn Văn T, sinh năm 2010; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, là cha bị hại, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, là mẹ của bị hại, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Doanh nghiệp tư nhân L4 do ông Phan Thành L2, sinh năm 1960; Trú tại TDP Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế là người đại diện theo pháp luật, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

1

- Ông Hoàng Kim P1, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng P2, sinh năm 1978; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Ông Nguyễn T2, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2023, Đặng C (có giấy phép lái xe hạng D, có nồng độ cồn 15,2064mg/100ml máu) điều khiển xe ô tô tải biển số 75H - 000.47 để chở than cho doanh nghiệp L4 từ cảng T lên hướng phường T, thành phố H trên Tỉnh lộ 28, khi cách ngã tư đường giao nhau cùng mức giữa Tỉnh lộ 10A và Tỉnh lộ 28 thuộc thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế khoảng từ 30 - 40m thì thấy cháu Nguyễn Văn T đang điều khiển xe đạp lưu thông trên tỉnh lộ 10A theo hướng phường P, thành phố H đi xã P, huyện P, lúc này C bóp còi và phanh xe từ từ vì nghĩ rằng cháu T sẽ phanh xe lại để tránh xe ô tô do mình điều khiển nên C vẫn tiếp tục cho xe chạy qua. Khi đến khoảng cách gần 01m so với xe đạp, C phanh gấp, tuy nhiên, xe ô tô vẫn va chạm vào xe đạp do cháu Nguyễn Văn T điều khiển, gây tai nan. Hậu quả cháu T bị thương được người nhà đưa đi cấp cứu, sau đó tử vong tại Bệnh viện T5.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông cho thấy:

Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đoạn giao nhau giữa Tỉnh lộ 10A với Tỉnh lộ 28 đoạn thuộc thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tỉnh lộ 28 mặt đường nhựa rộng 26m, ở giữa đường có dải phân cách cố định rộng 5m. Ở mép đường nhựa có vạch sơn trắng liền cách mép đường 0,43m; ở sát dải phân cách cố định có vạch sơn màu trắng liền cách dải phân cách là 0,15m.

Tỉnh lộ 10A đoạn từ chỗ giao nhau đi Phú Thượng mặt đường nhựa rộng 24m. Ở giữa đường có dải phân cách cố định rộng 3m; ở mép đường nhựa có vạch sơn trắng liền cách mép đường 0,43m; ở sát dải phân cách cố định có vạch sơn trắng liền cách dải phân cách là 0,15m. Đoạn đường từ chỗ giao nhau đi hướng P, mặt đường nhựa rộng 7,25m.

Ở đầu các hướng đến chỗ giao nhau có biển báo hiệu chỗ giao nhau đồng cấp và vạch dành riêng cho người đi bộ qua đường. Tại chỗ giao nhau ở các huớng có cột đèn tín hiệu giao thông.

Bên trái và bên phải đường Tỉnh lộ 10A được xác định theo chiều P đi P.

Bên trái và bên phải đường Tỉnh lộ 28 được xác định theo chiều T đi T.

Điểm mốc của vụ tai nạn được xác định là cột đèn đường số 135ab ở đầu dải phân cách đọan chỗ giao nhau đi T. Tiến hành khám nghiệm tại hiện trường, ghi nhận như sau:

2

  • Dấu vết phanh thứ nhất (số 01) trên mặt đường nhựa, dấu vết dài 8,12m, rộng 0,45m. Dấu vết gồm hai đường song song, mỗi đường rộng 0,14m, khoảng cách giữa hai đường là 0,17m. Dấu vết màu đen, mỏng, đều. Cột đèn đường số 135ab về hướng Thuỷ Vân 33,45m là đầu thứ nhất của dấu vết phanh, cách mép phải đường Tỉnh lộ 28 là 7,27m. Đầu thứ hai của dấu vết phanh nằm về hướng T và cách mép phải đường nhựa Tỉnh lộ 28 là 7,37m.
  • Dấu vết mảnh rỉ sắt (số H) nằm trên đường nhựa có diện 1x1cm. Đầu thứ hai của dấu vết phanh thứ nhất về hướng Thủy V 5m và cách mép phải đường nhựa Tỉnh lộ 28 7,66m là dấu vết mảnh rỉ sắt (số H).
  • Dấu vết trượt trên mặt đường nhựa (số I), dấu vết hình O1 (ô van) có diện 1x1cm. Dấu vết trượt (số I) cách dấu vết mảnh rỉ sắt (số H) là 0,54m và cách mép phải đường nhựa của Tỉnh lộ 28 là 7,54m.
  • Xe ô tô 75H-000.47 dừng hẳn trên mặt đường nhựa của Tỉnh lộ 28, chiều từ đuôi xe đến đầu xe theo hướng T đi T. Lốp ngoài bên phải của trục bánh sau cùng cách dấu vết trượt (số I) 24,59m và cách mép đường nhựa của Tỉnh lộ 28 là 7,40m. Bánh trước bên phải (đầu C1) cách mép phải đường nhựa của Tỉnh lộ 28 là 7,43m.
  • Xe đạp ngã nghiêng sang phải trên mặt đường nhựa của Tỉnh lộ 28 (số E). Chiều từ đuôi xe đến đầu xe theo hướng T đi Thủy V hơi chệch qua lề trái đường. Trục bánh trước của xe đạp cách lốp ngoài bên phải của trục bánh sau cùng xe ô tô 75H-000.47 về hướng T là 2,87m và cách mép phải đường nhựa của Tỉnh lộ 28 là 6,53m. Trục bánh sau của xe đạp cách mép đường nhựa của T3 lô 28 là 5,94m.

* Kết quả khám phương tiện xe ô tô tải biển kiểm soát 75H-000.47:

  • Mặt đèn pha phía trước bên phải bị gãy vỡ diện 0,31x01,8m; tâm của dấu vết gãy vỡ cách thành phải Cabin xe là 0,22m và cách đất 1,05m.
  • Ở góc bên phải Ba đờ xóc trước xe có dấu vết bong tróc sơn diện 4x2cm, dấu vết cách đất là 0,76m.
  • Bề mặt đầu bên phải Ba đờ xóc phía trước xe có vết trượt chiều từ trước ra sau, bề mặt có màu xám, dấu vết có diện 0,21x0,34m; dấu vết cách đất 0,85m.
  • Mặt lốp bánh trước và lốp bánh sau rộng 0,25m; khoảng giữa hai lốp trục bánh sau là 1,27m.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp:

  • T4 kim loại ở giữa cố định ghi đông với cổ xe bị gãy rời.
  • Đầu ngoài tay nắm bên trái ghi đông xe bị xây xát, mòn vẹt diện 2x1cm.
  • Mặt ngoài ống phượt trước bên phải xây xát, dính chất màu đen diện 4x1cm.
  • Cần kim loại ở cụm phanh sau bị gãy.
  • Mặt ngoài cụm chuyển líp xe xây xát, mòn vẹt diện 7x2cm.
  • Vành bánh sau xe bị cong vênh.

* Tại Kết luận giám định tử thi số 241-23/KLGĐTT-GĐPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T kết luận: Nguyên nhân tử vong của cháu Nguyễn Văn T là đa chấn thương nặng toàn thân do tai nạn giao thông.

3

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 10 và số 21 ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe đạp là 700.000 đồng và xe ô tô tải BKS 75H-000.47 là 900.000 dồng.

* Tại văn bản số 336/CV-GĐPY ngày 01/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T kết luận: Nồng độ cồn trong máu của Đặng C là 15,20 mg/100ml máu.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • 01 (một) xe ôtô BKS 75H-000.47;
  • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 035424, BKS 75H-000.47;
  • 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 2088258 của xe ô tô BKS 75H 000.47;
  • 01 (một) xe đạp;
  • 01 (một) giấy phép lái xe số 46004200043 hạng D, mang tên Đặng C;

Ngày 12/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ôtô BKS 75H – 000.47 cùng giấy tờ xe kèm theo cho Doanh nghiệp tư nhân L4.

Ngày 12/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe đạp cho người đại diện chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T1 (là bố của cháu Nguyễn Văn T).

* Về dân sự: Sau khi xảy ra tai nan bị cáo Đặng C đã tự nguyện bồi thường số tiền 350.000.000 đồng cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác. Doanh nghiệp tư nhân L4 không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS-PV ngày 18/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Đặng Chính về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đặng C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Phú Vang đã truy tố, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện P giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Đặng Chính phạm t " Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và xử phạt bị cáo Đặng C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

4

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe ôtô BKS 75H – 000.47 cùng giấy tờ xe kèm theo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại vật chứng cho chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân L là đúng quy định của pháp luật nên đề nghị không xem xét.

- Đối với 01 xe đạp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại vật chứng cho người đại diện của chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T1 (là bố của cháu Nguyễn Văn T) là đúng quy định của pháp luật nên đề nghị không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi xảy ra tai nan bị cáo Đặng C đã tự nguyện bồi thường số tiền 350.000.000 đồng cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

- Doanh nghiệp tư nhân L4 không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại, người dại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra, lời khai của họ đầy đủ, rõ ràng, không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, được thể hiện trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

5

[2] Về hành vi của bị cáo:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/10/2023 Đặng C có giấy phép lái xe hạng D (có nồng độ cồn 15,2064mg/100ml máu) điều khiển xe ô tô BKS 75H 000.47 lưu thông trên đường T, theo hướng phường T đi phuờng T, thành phố H, khi đi qua đoạn ngã tư giao nhau cùng mức giữa Tỉnh lộ 10A- Tỉnh lộ 28 thuộc thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì va chạm với xe đạp do cháu Nguyễn Văn T điều khiển lưu thông trên đường tỉnh lộ 10A theo hướng phường P đi xã P, huyện P gây tai nạn làm cháu Nguyễn Văn T tử vong.

Hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông khi có nồng độ cồn trong máu và không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, không nhường đường cho xe đi đến từ phía bên phải của bị cáo Đặng C đã vi phạm vào khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia ngày 14/6/2019; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G; khoản 2 Điều 12, khoản 8 Điều 8 và khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ 2008 và làm chết một nguời nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm b khoản 01 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thầy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tình hình trật tự công cộng tại địa phương và tính mạng của người khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, L3 thứ yếu là do bị hại Nguyễn Văn T điều khiển xe đạp tham gia giao thông không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức là vi phạm khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ 2008 nên cũng cần xem xét và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị hại cũng có một phần lỗi và gia đình bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Thấy rằng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề.

6

[4] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.

Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần phải áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng :

- Đối với 01 xe ôtô BKS 75H – 000.47 cùng giấy tờ xe kèm theo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại vật chứng cho chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân L là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 xe đạp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại vật chứng cho người đại diện của chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T1 (là bố của cháu Nguyễn Văn T) là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi xảy ra tai nan bị cáo Đặng C đã tự nguyện bồi thường số tiền 350.000.000 đồng cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên HĐXX không xem xét.

- Doanh nghiệp tư nhân L4 không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 12 Luật giao thông đường bộ;

Tuyên bố bị cáo Đặng Chính phạm t: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Đặng Chính 01 (Một) năm tù . Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hóa

Trần Thị Thu

Võ Sơn

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Chính
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger