TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/DS-ST Ngày 15 - 4 - 2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thanh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Văn Vĩnh
2. Bà Kim Thị Sà Mết
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Nhựt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa:
Bà Châu Ngọc Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Địa chỉ trụ sở chính: Số B, L, phường L, quận H, T phố Hà Nội. Địa chỉ liên hệ: Số B, đường C, phường X, quận N, T phố Cần Thơ.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Lê Viết P; chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Q, theo Giấy ủy quyền số 109/2023/UQ-CTHĐQT ngày 13/7/2023 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
Ông Lê Viết P ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Mạc Phong V, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ-Trung tâm xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Theo Giấy ủy quyền số 90/2023/UB-NCB ngày 31/8/2023. (Có mặt).
- Đồng bị đơn: Ông Phạm Thanh T1, sinh năm 1977 và bà Đoàn Thị Cẩm L, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 31/8/2023, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q là ông Mạc Phong V trình bày: Vào ngày 28/11/2019, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q- Chi nhánh tỉnh B Hợp đồng hạn mức tín dụng số hợp đồng 064/19/HĐHM-9384 ngày 28/11/2019 để cấp hạn mức tín dụng cho ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Cụ thể như sau: Hạn mức tín dụng: 500.000.000 đồng; thời hạn duy trì hạn mức cho vay: 36 tháng, tái xét hạn mức 12 tháng/lần, kể từ ngày 28/11/2019; mục đích cho vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa; thời hạn tối đa của mỗi khoản vay theo từng lần giải ngân trong hạn mức không vượt quá 12 tháng và được quy định cụ thể tại khế ước nhận nợ, việc nhận nợ có hiệu lực từ thời điểm giải ngân; số tiền được giải ngân: 500.000.000 đồng; ngày nhận nợ đầu tiên: 29/11/2019; nhận số tiền: 500.000.000 đồng; thời hạn vay được xác định tại khế ước nhận nợ đề ngày 29/11/2019: 06 tháng kể từ ngày nhận nợ 29/11/2019; mục đích giải ngân: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán lúa; lãi suất cho vay trong hạn: 10,5%/năm; lãi suất quá hạn: 15,75%; Phương thức thanh toán: Lãi suất trả hàng tháng vào ngày 25 hàng tháng, ngày trả nợ gốc vào ngày cuối cùng là ngày 29/5/2020.
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh tỉnh B Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 064/2019/HĐTC/117-9384 ngày 28/11/2019 để thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh tỉnh B quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 534711 (Số vào sổ cấp GCN: CH01955), diện tích 306,5m² (trong đó có 14,9m² nằm trong bảo lưu), đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 1692, tờ bản đồ số 12 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Phạm Thanh T1 vào ngày 20/8/2013; đất toạ lạc tại ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
Từ khi vay cho đến nay, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q- Chi nhánh tỉnh B được số tiền gốc 64.126 đồng và tiền lãi suất 22.916.335 đồng. Từ ngày 25/4/2020 đến nay, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q - Chi nhánh tỉnh B thêm khoản tiền nào khác nữa và số tiền vay của ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 30/5/2020.
Tính đến ngày 15/4/2024, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền 853.148.381 đồng; trong đó: Nợ tiền gốc 499.935.874 đồng; nợ tiền lãi suất trong hạn 5.165.582 đồng và lãi suất quá hạn 348.046.925 đồng.
Trong thời gian nợ vay đến hạn và quá hạn thanh toán, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nhiều lần liên hệ với ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L về nghĩa vụ trả nợ thì ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L chỉ hứa hẹn sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không thực hiện, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, gây khó khăn cho công tác thu hồi vốn vay.
Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền tính đến hết ngày 15/4/2024 là 853.148.381 đồng; trong đó: Nợ gốc là 499.935.874 đồng; nợ tiền lãi suất trong hạn là 5.165.582 đồng và lãi suất quá hạn là 348.046.925 đồng và yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải tiếp tục trả tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 15/4/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ vay theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và khế ước nợ đã ký kết. Trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 306,5m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 1692, tờ bản đồ số 12; tọa lạc ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 534711 (Số vào sổ cấp GCN: CH01955) do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Phạm Thanh T1 vào ngày 20/8/2013.
Đối với ý kiến, trình bày của đồng bị đơn ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Thanh T1 và Đoàn Thị Cẩm L không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L tại chỗ ở hiện nay của ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L nhưng ông Phạm Thanh T1 không có mặt tại địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 278, 280, 292, 293, 299, 303, 304, 317, 318, 323, 353, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng. Buộc ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền gốc và tiền lãi suất tạm tính đến hết ngày 15/4/2024 là 853.148.381 đồng; trong đó: Nợ gốc là 499.935.874 đồng; tiền lãi trong hạn là 5.165.582 đồng; tiền lãi suất quá hạn là 348.046.925 đồng. Ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán tiền lãi suất phát sinh từ sau ngày 15/4/2024 theo mức lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho đến khi thanh toán xong nợ và trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ. Ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L thanh toán tiền nợ vay theo hợp đồng hạn mức cho vay ngày 28/11/2019 và Khế ước nhận nợ ngày 29/11/2019 đã ký kết. Căn cứ vào hợp đồng hạn mức cho vay và Khế ước nhận nợ, vào thời điểm ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đang cư trú tại ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đồng bị đơn ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào Hợp đồng hạn mức cho vay số 064/19/HĐHM-9384 ngày 28/11/2019 và Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/064/19/HĐHM-9384 ngày 29/11/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, có cơ sở khẳng định ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đã được Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q cho vay và nhận tổng số tiền gốc là 500.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 10,5%/năm. Theo hợp đồng hạn mức cho vay và khế ước nhận nợ đã ký kết nêu trên ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi suất cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q vào ngày 29/5/2020. Xét thấy, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và khoản nợ nêu trên đã quá hạn thanh toán nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi suất đến hết ngày 15/4/2024 là 853.148.381 đồng; trong đó: Nợ gốc 499.935.874 đồng; nợ lãi suất trong hạn 5.165.582 đồng và lãi suất quá hạn 348.046.925 đồng là có căn cứ, được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự.
[3] Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc yêu cầu ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải thanh toán nợ lãi suất quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kể từ sau ngày 15/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ là có căn cứ, được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi năm 2017 nên buộc ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi suất phát sinh do nợ quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, kể từ sau ngày 15/4/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc.
[4] Đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với diện tích 306,5m², đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 1692, tờ bản đồ số 12; tọa lạc ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 534711 (Số vào sổ cấp GCN: CH01955) do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Phạm Thanh T1 vào ngày 20/8/2013 trong trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ. Xét thấy, khi vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích đất nêu trên để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thông qua Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 064/2019/HĐTC/117-9384 ngày 28/11/2019. Hội đồng xét xử xét thấy về hình thức Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 064/2019/HĐTC/117-9384 ngày 28/11/2019 được chứng thực và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Về nội dung, diện tích 306,5m², đất trồng cây lâu năm và tài sản gắn liền với đất là một phần căn nhà có chiều ngang 09m x chiều dài 12m = 108m², có kết cấu móng khung sườn bê tông cốt thép, vách tường xây + thiếc, nền xi măng + đất, mái tol thiếc, thuộc thửa đất số 1692, tờ bản đồ số 12 do ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L đứng tên quyền sử dụng đất nên ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L được quyền thế chấp thửa đất trên để vay vốn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 169 Luật đất đai năm 2013. Như vậy, về hình thức và nội dung của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là phù hợp quy định của pháp luật nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không có ý kiến phản đối yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/11/2023 thì tài sản thế chấp nêu trên vẫn đang do ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L quản lý, không phát sinh giao dịch với người thứ ba. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q trong trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ.
[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 4.604.448 đồng, do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được chấp nhận nên ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải chịu số tiền 4.604.448 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp tạm ứng số tiền 4.604.448 đồng nên ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 tiền 4.604.448 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được chấp nhận toàn bộ nên ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải nộp án phí trên tổng số tiền 853.148.381 đồng mà ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q bằng 36.000.000 đồng + (3% x 53.148.381 đồng) = 37.594.451 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải nộp án phí, đã dự nộp 7.394.572 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003695 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
[7] Như đã phân tích, các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 278, 280, 292, 293, 299, 303, 304, 317, 318, 323, 353, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền gốc và lãi là 853.148.381 đồng (T2 trăm năm mươi ba triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm tám mươi mốt đồng); trong đó: Nợ gốc là 499.935.874 đồng (Bốn trăm chín mươi chín triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm bảy mươi bốn đồng) và nợ lãi suất là 353.212.507 đồng (Ba trăm năm mươi ba triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm lẻ bảy đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày 15/4/2024 (ngày xét xử sơ thẩm), ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì lãi suất mà ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
- Trong trường hợp ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thu hồi nợ gồm: Giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích 306,5m², đất trồng cây lâu năm (trong đó có 14,9m² nằm trong bảo lưu), thửa đất số 1692, tờ bản đồ số 12; tọa lạc ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 534711 (Số vào sổ cấp GCN: CH01955) do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp cho ông Phạm Thanh T1 vào ngày 20/8/2013.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 4.604.448 đồng, ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải chịu 4.604.448 đồng (Bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng). Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản số tiền 4.604.448 đồng (Bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng). Ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải có nghĩa vụ hoàn trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 tiền 4.604.448 đồng (Bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Phạm Thanh T1 và bà Đoàn Thị Cẩm L phải nộp 37.594.451 đồng (Ba mươi bảy triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng) và nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp tạm ứng án phí 7.394.572 đồng (Bảy triệu ba trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003695 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
| Dương Hồng Chi |
Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 17/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu Phạm Thanh T1, Đoàn Thị Cẩm L thanh toán số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
