|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-PT Ngày: 19 – 6 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyên .
Các thẩm phán:
- Ông Ngô Văn Minh;
- Bà Dương Thị Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Mai – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLPT-HS ngày 17/4/2024, đối với các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A, Nguyễn Hoài Đ và A K do có kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.
- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
Bị cáo Hà Ngọc B; sinh ngày 09/9/1977 tại tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Nơi cư trú: Thôn F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Con ông Hà Văn T, sinh năm 1957 và bà Vũ Thị D, sinh năm 1956; có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2023 cho đến ngày 15/12/2023 cho tại ngoại. (có mặt)
Bị cáo Hà Tuấn A; sinh ngày 03/8/1989 tại tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Kon Tum; Nơi ở hiện nay: Thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum;
1
Con ông Hà Xuân D1 (đã chết) và bà Trương Thị H, sinh năm 1967; có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/4/2023 cho đến ngày 28/8/2023 cho tại ngoại. (có mặt)
- Các bị cáo bị kháng nghị:
Bị cáo Nguyễn Hoài Đ, (tên gọi khác:Đức Mập); sinh ngày 01/6/1993 tại tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Con ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1957 và Võ Thị C, sinh năm 1959; có vợ và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/8/2023 cho đến ngày 28/10/2023 cho tại ngoại.(có mặt)
Bị cáo A K; sinh ngày 09/02/2004 tại tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Giơ Lâng; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum; Con ông A K1, sinh năm 1965 và bà Y Y, sinh năm 1964; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Ngọc B: Ông Vũ Anh M, sinh năm 1991 là Luật sư - Chi nhánh Văn phòng Luật sư Phan Anh C1 tại Kon Tum, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. (có mặt)
Địa chỉ: Số H, đường B, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
- Người bào chữa cho các bị cáo Hà Tuấn A và A K: Ông Phạm Hoài Q, sinh năm 1983, là Luật sư - Công ty L1. 20 - Chi nhánh Đ1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt)
Địa chỉ: Số G - đường A, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng nghị, kháng cáo:
+ Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kon Tum.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn L - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kon Tum.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T1 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kon Tum (Theo văn bản ủy quyền số: 01/GUQ-UBND, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kon Tum). (có đơn xin vắng mặt)
2
+ Người bị hại:
Cộng đồng thôn D (K), xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.
Người đại diện: Ông A H1 - Thôn T (K), xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh A T2, sinh năm 2002; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.
- Anh Nguyễn Tấn T3, sinh năm 1997; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Kon Tum.
- Những người tham gia tố tụng khác:
- + Ông Đỗ Hữu H2 – Giám định viên tư pháp lĩnh vực lâm nghiệp thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh K. (có đơn xin vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Xuân T4 – Trưởng phòng Tài chính, kế hoạch huyện K. (có đơn xin vắng mặt)
- + Ông A B2. (có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.
- + Ông A V. (có đơn xin vắng mặt)
Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.
- + Ông A N, sinh năm: 1986. (vắng mặt)
Trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 10 năm 2022, Hà Ngọc B liên lạc với bị cáo Hà Tuấn A xuống dự án tại huyện K để phát cây. Sau đó, chở Hà Tuấn A xuống ở phòng trọ của Đ và nhờ Đ hỗ trợ Hà Tuấn A và chỉ dẫn cho Hà Tuấn A biết khu vực rừng cần cắt hạ cây. Khi Hà Tuấn A cất giấu bao tải đựng máy cưa, xăng, nhớt vào bụi cỏ ở vị trí đã được chỉ dẫn và về phòng trọ thì có gọi điện thoại cho B và nói: “Phải có người phụ mới làm được” thì B nói H3 Tuấn A hỏi Đ. Sau đó, Đ đã gọi điện thoại cho anh Đinh Đại Hải D2 và nói: “Em bố trí một người nào đó trong tổ, đứa nào biết cắt cưa đi phụ việc cho Hà Tuấn A làm cho anh B”, rồi anh D2 đã phân công những công nhân của Công ty T5 làm cùng đội với mình gồm: Bị cáo A K, anh A T2 và anh Nguyễn Tấn T3 để đi phụ giúp bị cáo Hà Tuấn A cắt hạ cây rừng. Sau khi được phân công đi phụ giúp cho Hà Tuấn A thì A K, A T2 và Nguyễn Tấn T3 đã biết rõ không phải là công việc hàng ngày mà mình được giao và khi đến nơi thấy Hà Tuấn A cắt hạ cây thì ba người cũng biết đây là khu vực rừng nhưng vẫn tiếp tục phụ giúp Hà Tuấn A, cụ thể:
3
Lần thứ nhất: Đ gọi điện thoại nói với Hà Tuấn A là có người đi phụ rồi và đang chờ ở hồ nước, chỗ bãi phân của Công ty T6 Sau đó, Hà Tuấn A chở A K đi vào khu vực rừng thuộc lô 9 và lô 14, khoảnh 5, Tiểu khu E là rừng tự nhiên, chức năng rừng sản xuất, do hộ gia đình ông A N1 nhận quản lý, bảo vệ rừng và Cộng đồng thôn D (K), xã Đ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng. Khi đến nơi, Hà Tuấn A lấy các công cụ đã giấu trước đó ra, rồi phân công A K sử dụng dao rựa đã mang theo để phát cây bụi xung quanh gốc cây gỗ và mang xăng, nhớt đi theo Hà Tuấn A để đổ vào máy cưa, còn Hà Tuấn A sử dụng cưa để cắt hạ cây. A K đi phụ giúp Hà Tuấn A cắt hạ cây rừng, đến ngày thứ 4 thì K không làm nữa. Sau đó, B gọi điện thoại cho Đ nói về việc A K không làm nữa, rồi Đ lại gọi điện cho D2 để bố trí người khác đi làm cùng Hà Tuấn A.
Lần thứ hai: Đ gọi điện thoại nói với Hà Tuấn A là có A T2 đi phụ và Hà Tuấn A lấy xe máy tại phòng trọ của Đ để chở A T2 đi đến khu vực rừng mà Hà Tuấn A và A K đã cắt hạ trước đó. Khi đến nơi, A T2 mang xăng, nhớt đi theo Hà Tuấn A để đổ vào máy cưa, còn Hà Tuấn A sử dụng cưa để cắt hạ cây rừng. A T2 đi phụ giúp Hà Tuấn A đến ngày thứ hai thì T2 không làm nữa. Hà Tuấn A báo cho B và Đ biết, sau đó Đ lại gọi điện thoại cho D2 để bố trí người khác.
Lần thứ ba: D2 gọi điện thoại đến cho Hà Tuấn A và nói “Anh có đi làm không, có người đang chờ ở bãi phân”. Sau đó, Hà Tuấn A chở Nguyễn Tấn T3 đi đến khu vực rừng mà Hà Tuấn A, cùng với A K và A T2 đã cắt hạ trước đó. Khi đến nơi, Hà Tuấn A phân công Thương phụ giúp mình giống như A T2 được hai ngày thì không làm nữa. Ngày hôm sau, B gọi điện nói Hà Tuấn A đi về huyện N để dọn dẹp nhà cho B nên Hà Tuấn A và T3 không đi cắt cây rừng nữa.
Đến ngày 22/02/2023, Hạt Kiểm lâm huyện K phối hợp với UBND xã Đ tiến hành tuần tra, kiểm tra tại Tiểu khu E thuộc địa phận xã Đ, huyện K. Qua kiểm tra phát hiện khu vực rừng thuộc lô 20, khoảnh 2; lô 4, 9, 14 khoảnh 5, Tiểu khu E bị chặt phá với diện tích là 19.884m².
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 8 giờ 20 phút ngày 24/02/2023 tại Tiểu khu E địa giới hành chính xã Đ, huyện K thể hiện: Hiện trường vụ án là khu vực rừng tại khoảnh 2, khoảnh E, Tiểu khu E thuộc lâm phần do các hộ gia đình A V, A B2, A N1 và Cộng đồng thôn D, xã Đ, huyện K quản lý, bảo vệ. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại đo được bằng máy định vị cầm tay nhãn hiệu GPS GARMIN 78s là 19.884 m², trong đó: Phần diện tích rừng 9.441 m² thuộc lô 20, khoảnh 2 và lô 4, lô 9, lô 14 khoảnh 5 thì toàn bộ gỗ tại hiện trường đã bị đốt cháy hoàn toàn và than hóa; phần diện tích rừng 10.443 m² thuộc lô 9, lô 14 khoảnh 5 thì toàn bộ gỗ tại hiện trường đã bị đốt cháy nham nhở. Dấu vết để lại tại các gốc cây, thân cây cho thấy các cây gỗ có đường kính từ 10 cm trở lên thì
4
bị cắt hạ bằng máy cưa xăng, còn các cây gỗ nhỏ hơn, cây bụi và le thì bị chặt bằng công cụ là rựa, với dấu vết cắt, chặt đã cũ.
Tại biên bản thực nghiệm điều tra hồi 8 giờ 00 phút ngày 11/03/2023 tại Tiểu khu E rừng thuộc xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum thể hiện: Hà Tuấn A, A K, A T2 và Nguyễn Tấn T3 đã xác định vị trí, diện tích rừng đã hủy hoại là 10.443 m², cụ thể:
- + Bị cáo Hà Tuấn A và bị cáo A K đã hủy hoại 5.716,710 m² rừng.
- + Bị cáo Hà Tuấn A và A T2 đã hủy hoại 2.512,778 m² rừng.
- + Bị cáo Hà Tuấn A và Nguyễn Tấn T3 đã hủy hoại 2.213,692 m².
Tại Bản kết luận giám định tư pháp ngày 05/4/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh K kết luận: Khu vực rừng bị hủy hoại tại khoảnh 2, khoảnh 5, Tiểu khu E là rừng tự nhiên, chức năng rừng sản xuất; Số cây gỗ bị hủy hoại đều thuộc chủng loại SP thuộc nhóm VIII và bị thiệt hại 100%. Tổng khối lượng gỗ bị thiệt hại trên diện tích rừng 19.884m² bị hủy hoại tại khoảnh 2, khoảnh 5, Tiểu khu E là 29,410 m³, sản lượng gỗ thương phẩm là 0,000 m³, số lượng cây tái sinh (đường kính D1,3<10cm, chiều cao từ 1,6 đến 5m) bị thiệt hại là 3.818 cây.
Khối lượng gỗ bị thiệt hại trên diện tích rừng do bị cáo Hà Tuấn A, bị cáo A K, anh A T2 và anh Nguyễn Tấn T3 hủy hoại là 15,446 m³, sản lượng gỗ thương phẩm là 0,000 m³, số lượng cây tái sinh bị thiệt hại là 2.004 cây. Trong đó: Bị cáo Hà Tuấn A cùng với Nguyễn Tấn T3 hủy hoại là: khối lượng gỗ thiệt hại là 3,274 m³, số lượng cây tái sinh bị thiệt hại là 425 cây; bị cáo Hà Tuấn A cùng với A T2 hủy hoại là: khối lượng gỗ thiệt hại là 3,717 m³, số lượng cây tái sinh bị thiệt hại là 482 cây; bị cáo Hà Tuấn A cùng với bị cáo A K hủy hoại là: khối lượng gỗ thiệt hại là 8,455 m³, số lượng cây tái sinh bị thiệt hại là 1097 cây.
Tại kết luận định giá tài sản số: 04/KLĐGTS ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Tổng giá trị 29,410 m³ gỗ bị thiệt hại tại khu vực rừng bị hủy hoại tại khoảnh B, khoảnh 5, tiểu khu E là 25.782.777 đồng; tổng giá trị thiệt hại phải bồi thường đối với 19.884 m² là 100.523.763 đồng. Trong đó: Tổng giá trị 15,446 m³ gỗ bị thiệt hại tại khu vực rừng do bị cáo Hà Tuấn A, anh A T2, bị cáo A K và anh Nguyễn Tấn T3 hủy hoại là 13.540.997 đồng; Tổng giá trị thiệt hại phải bồi thường đối với 10.443,18 m² rừng tự nhiên, chức năng rừng sản xuất do Hà Tuấn A, A T2, A K và Nguyễn Tấn T3 hủy hoại là 50.917.944 đồng. Cụ thể: Giá trị phải bồi thường đối với 5.716,710 m² diện tích rừng do Hà Tuấn A, A K hủy hoại là 26.268.363 đồng; Giá trị phải bồi thường đối với 2.512,778 m² diện tích rừng do Hà Tuấn A, A T2 hủy hoại là 13.009.365 đồng; Giá trị phải bồi thường đối với 2.213,692 m² diện tích rừng do Hà Tuấn A, Nguyễn Tấn T3 hủy hoại là 11.640.216 đồng.
5
Với nội dung trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum quyết định:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A, Nguyễn Hoài Đ và A K phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hà Ngọc B 39 (Ba mươi chín ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 20/9/2023 cho đến ngày 15/12/2023.
- Xử phạt bị cáo Hà Tuấn A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 18/4/2023 cho đến ngày 28/8/2023.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Đ 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/3/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Hoài Đ cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo A K 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/3/2024).
Giao bị cáo cáo A K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Kon Tum giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
6
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 23/3/2024, bị cáo Hà Ngọc B kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm trả hồ sơ để xác định lại diện tích rừng bị hủy hoại, giám định và định giá lại. Đến ngày 06/5/2024 bị cáo Hà Ngọc B có đơn thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
Ngày 25/3/2024, bị cáo Hà Tuấn A có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án để điều tra lại.
Ngày 02/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum kháng nghị một phần bản án về phần xác định trách nhiệm dân sự, án phí đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường toàn bộ thiệt hại được xác định trong vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 64.458.942 đồng, căn cứ mức độ lỗi của mỗi bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xác định số tiền cụ thể phải bồi thường và căn cứ để xác định án phí phải nộp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A giữ nguyên nội dung kháng cáo, không thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố rút một phần kháng nghị đối với nội dung: Buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường toàn bộ thiệt hại được xác định trong vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 64.458.942 đồng, với lý do theo văn bản số 06/HĐĐGTS ngày 14/6/2024 của hội đồng định giá trả lời: “Tổng giá trị thiệt hại phải bồi thường đối với 10.443,18 m² rừng tự nhiên bị hủy hoại là 50.917.944 đồng thì đã bao gồm giá trị của 15,446 m² gỗ bị thiệt hại là 13.540.997 đồng”, các nội dung khác Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 BLTTHS chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Kon Tum, huỷ một phần bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Kon Rẫy theo hướng: Căn cứ mức độ lỗi của từng bị cáo, người liên quan trong vụ án để xác định số tiền mà họ phải đề bù. Căn cứ số tiền cụ thể mỗi bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải bồi thường để quyết định số tiền án phí dân sự họ phải nộp.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hà Ngọc B và Hà Tuấn A về việc huỷ toàn bộ án sơ thẩm để điều tra lại.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Ngọc B tranh luận:
7
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023, cơ quan chuyên môn sử dụng máy đo GPS cầm tay chưa có tem kiểm định chất lượng còn hiệu lực là không chính xác mà phải sử dụng máy đo GNSS-RTK.
Cấp sơ thẩm xác định diện tích rừng bị hủy hoại trong vụ án không rõ ràng, không chính xác về vị trí theo lời khai của các ông A H1, A N, bị cáo A K thể hiện tại các bút lục 1794, 1718, 1608 là gây bất lợi cho bị cáo. Do vậy, cần phải làm rõ diện tích rừng bị hủy hoại để làm chứng cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong vụ án.
Biên bản ghi lời khai của ông N ngày 13/3/2023 (bút lục 1794) có sửa chữa từ tháng 7/2022 thành tháng 12/2022 việc sửa chữa này không có xác nhận của ông A N là vi phạm Điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự, hành vi này của Cơ quan Cảnh sát điều tra có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án. Việc xác định mốc thời gian tháng 7/2022 hay tháng 12/2022 có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ nếu thực tế tháng 7/2022 thì các bị cáo sẽ không có tội và có thể bị kết tội oan. Biên bản ghi lời khai của bị cáo A K tại các bút lục 1615, 1616, 1620 cũng bị tẩy xóa và không có xác nhận của bị cáo.
Kết luận giám định tư pháp và kết luận định giá tài sản không chính xác, có mâu thuẫn cần phải xác định giá cây đứng theo hướng dẫn tại Thông tư số 32 của Bộ N2.
Tại phiên tòa sơ thẩm, luật sư Vũ Anh M đã yêu cầu triệu tập các ông A N, A H1, giám định viên tư pháp để làm rõ những mâu thuẫn nêu trên nhưng không được chấp nhận.
Do đó, kháng cáo của bị cáo B là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc B, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Tuấn A tranh luận: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023 chưa xác định cụ thể vị trí rừng bị hủy hoại thực tế, chưa xác định rõ những mốc cụ thể, không cắm cọc, đánh số để xác định diện tích rừng bị hủy hoại, hơn nữa những người làm chứng trong vụ án cũng khai diện tích rừng bị hủy hoại của các bị cáo cách mép đường khoảng 50m, do đó không có căn cứ để cho rằng diện tích rừng bị hủy hoại là 10.443,18m² như cấp sơ thẩm đã xét xử. Do đó, kháng cáo của bị cáo A là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Hà Tuấn A, hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo, kháng nghị: Đơn kháng cáo, Quyết định kháng
8
nghị được lập trong thời hạn luật định. Do đó, HĐXX xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị đối với nội dung buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường toàn bộ thiệt hại được xác định trong vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 64.458.942 đồng. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị này.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc B, thấy rằng:
[2.1] Đối với kháng cáo về phương pháp xác định diện tích rừng bị hủy hoại:
Bị cáo không đồng ý với kết quả đo đạc diện tích rừng bị huỷ hoại và cho rằng việc sử dụng máy GPS cầm tay không có tem kiểm định và phương pháp đo không chính xác. Phải sử dụng máy GNSS-RTK để đo đạc lại diện tích nhưng bị cáo và luật sư bào chữa không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng máy đo đạc cầm tay GPS GARMIN 78s là vi phạm và không đảm bảo chất lượng. Tại văn bản số 12/HKL-TTPC ngày 06/3/2024 của Hạt kiểm lâm K2 về việc cung cấp một số nội dung liên quan đến vụ Hủy hoại rừng tại tiểu khu E, Hạt kiểm lâm đã trả lời về nguồn gốc, cơ sở pháp lý, phương pháp đo đạc và khẳng định việc sử dụng máy định vị GPS GARMIN 78s để đo đếm xác định diện tích rừng bị thiệt hại là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do đó, không chấp nhận kháng cáo về nội dung này.
[2.2] Đối với kháng cáo về diện tích rừng bị hủy hoại:
Tại biên bản ghi lời khai của A N ngày 13/3/2023 (BL1794) khai: “Vào khoảng tháng 12/2022 khi tôi đến làm rẫy tại khu vực thôn D, xã Đ thì phát hiện tại khu vực đồi cách thác nước khoảng 200m, cách đường đất do công ty T5 khoảng 50m có các cây đã bị cắt phá, dọn dẹp”. Tại biên bản ghi lời khai của A K ngày 10/3/2023 (BL 1608) khai: “...Khi tôi và Tuấn A đến thì một số cây đã bị cắt hạ từ trước...”. Biên bản ghi lời khai của A N ngày 13/3/2023 (BL1794) có sửa chữa lại mốc thời gian là tháng 12/2022, việc sửa chữa này vi phạm Điều 133 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 35 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, có dấu hiệu của hành vi làm sai lệch hồ sơ gây bất lợi cho các bị cáo.
Tại biên bản ghi lời khai của ông A H1 – Thôn trưởng thôn 4, xã Đ (BL1718) khai: “Vị trí của khu rừng bị hủy hoại là tại khu vực đồi thôn D, xã Đ,
9
gần phía đường đất do công ty T5 mở (cách khoảng 50m), cách thác nước khoảng 200 đến 300m”.
Tại biên bản ghi lời khai của bị cáo Hà Tuấn A (BL1541) khai: “Khu vực đồi anh Đ phân công tôi đi phát dọn và cắt hạ cây là khu vực ngoài dự án của công ty T5, khoảng cách từ khu vực đồi đến khu vực của công ty là khoảng 50m và gần khu vực quả đồi là có thác nữa”.
Nhưng tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023 kèm theo sơ đồ hiện trường và biên bản thực nghiệm điều tra ngày 11/3/2023 lại thể hiện: “Diện tích rừng hủy hoại tại khoảnh 2, khoảnh 5, tiểu khu E – lâm phần do hộ gia đình A V, A B2, A N1 và cộng đồng thôn D xã Đ quản lý, phía Nam giáp tuyến đường mòn cũ và thể hiện nội dung dấu vết để lại tại các gốc cây, thân cây...với dấu vết cắt, chặt đã cũ... (BL1032). Như vậy, qua lời khai của bị cáo A K, Hà Tuấn A và những người làm chứng A H1, A N đối chiếu với biên bản, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, cáo trạng truy tố và bản án sơ thẩm thấy rằng diện tích, vị trí rừng bị hủy hoại trong vụ án có sự mâu thuẫn, không phù hợp. Nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ, lẽ ra cấp sơ thẩm phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung và đối chất làm rõ nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành nên chưa đủ căn cứ để xác định diện tích rừng bị hủy hoại thực tế gây bất lợi cho các bị cáo trong vụ án về định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo Hà Ngọc B.
[2.3] Đối với kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm trong việc lập biên bản khám nghiện hiện trường và cho rằng tại thời điểm lập biên bản không có máy in nhưng sau đó biên bản lại được in ra bằng máy là không đúng quy định tại Điều 178, 201 Bộ luật tố tụng hình sự, thấy rằng: Tại thời điểm lập biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023, Cơ quan tiến hành tố tụng có sử dụng máy vi tính và USB nhưng không có máy in, sau đó đã dùng USB để in ra biên bản này là đúng quy định không vi phạm như kháng cáo của bị cáo đã nêu. Do đó, không chấp nhận kháng cáo về nội dung này.
[2.4] Đối với kháng cáo cho rằng kết luận giám định tư pháp và kết luận định giá tài sản không chính xác có mâu thuẫn:
Cấp sơ thẩm căn cứ vào kết luận giám định tư pháp ngày 31/3/2023 của Chi cục kiểm lâm tỉnh K xác định loại rừng và nhóm gỗ bị hủy hoại trong vụ án theo hướng dẫn tại thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 Bộ N2 và tiến hành định giá diện tích rừng, khối lượng gỗ bị hủy hoại trong vụ án là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do diện tích rừng bị hủy hoại trong vụ án chưa được làm rõ như phân tích tại mục [2.2] nên cần xác định lại diện tích
10
rừng và khối lượng gỗ bị hủy hoại để làm căn cứ xác định số tiền bồi thường cho nguyên đơn dân sự.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Hà Tuấn A, thấy rằng:
[3.1] Đối với kháng cáo bị cáo cho rằng các ông A B2, A V không có mặt tại thời điểm khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023 nhưng biên bản lại thể hiện có mặt là vi phạm các Điều 50, Điều 67, Điều 133, Điều 176 BLTTHS, thấy rằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/02/2023 (B1 1031) thể hiện ông A B2, A V có mặt, trong đó có 01 người ký biên bản tại UBND xã Đ; 01 người ký tại trụ sở Công an huyện K. Nhưng nội dung tại USB (video) do bị cáo cung cấp thể hiện các ông này không có mặt tại thời điểm khám nghiệm hiện trường là không đúng và không thể hiện sự thật khách quan. Tuy nhiên, diện tích rừng của ông A B2, A V cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã tách ra để làm rõ và xem xét trong vụ án khác nên không ảnh hưởng gì trong vụ án này. Do vậy, không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo Hà Tuấn A.
[3.2] Đối với kháng cáo cho rằng diện tích rừng bị hủy hoại trong vụ án chưa chính xác, kết luận định giá tài sản không đúng: Giống như bị cáo B, bị cáo A cũng cho rằng tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi hủy hoại rừng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án thì trước đó tại khu vực rừng này đã bị chặt hạ và vị trí cây bị chặt hạ cách đường của công ty T5 khoảng 50m theo lời khai của các ông A N, A H1 và bị cáo A K.
Về nội dung bị cáo cho rằng kết quả định giá tài sản là không chính xác do chưa thu thập số liệu về cây đứng, chiều cao.
Như đã phân tích nêu trên đối với kháng cáo của bị cáo Hà Ngọc B về diện tích và cây rừng bị hủy hoại do trước đó đã bị chặt hạ nhưng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ nên nội dung kháng cáo này của bị cáo A được chấp nhận.
[3.3] Đối với kháng cáo về hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoài Đ, các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A đều kháng cáo cho rằng mức hình phạt của bị cáo Đ là quá nhẹ, không phù hợp, thiếu công bằng, HĐXX thấy rằng: Luật tố tụng hình sự không quy định cho bị cáo quyền kháng cáo về hình phạt đối với các bị cáo khác. Tuy nhiên, trong đơn kháng cáo, các bị cáo có thể hiện nội dung so sánh hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Đ so với hình phạt của các bị cáo có kháng cáo nên HĐXX phúc thẩm phân tích vai trò của bị cáo Đ trong vụ án. Về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xử đối với bị cáo Đ là chưa nghiêm và chưa tương xứng, chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo Đ.
Bị cáo Nguyễn Hoài Đ có vai trò đồng phạm tích cực trong vụ án, thể hiện qua các chuỗi hành vi như sau: Tiếp nhận ý chí và hợp tác tích cực sau khi bị cáo B gọi điện thoại nhờ hỗ trợ; điện thoại cho Đinh Đại Hải D2 bố trí người
11
trong tổ của Đ đi phụ giúp cho bị cáo A cắt hạ cây; sau khi A T2, A K nói nghỉ không làm nữa thì Đ tiếp tục điện thoại cho D2 bố trí người khác ...Nhưng cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài Đ mức án 36 tháng tù cho hưởng án treo là quá nhẹ không có tác dụng giáo dục trong tình hình tội phạm có liên quan đến môi trường ngày càng gia tăng như hiện nay. Tuy nhiên, hình phạt của bị cáo Đ mà cấp sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo mà chỉ phân tích về vai trò giúp sức của bị cáo Đ trong vụ án để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, thấy rằng:
Theo quy định tại Điều 587 Bộ luật dân sự, Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra, quy định: “Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”. Như vậy, cấp sơ thẩm không căn cứ mức độ lỗi để quyết định số tiền bồi thường cụ thể của từng bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng theo quy định trên và Điều 288 Bộ luật dân sự; không xác định số tiền án phí dân sự sơ thẩm cụ thể mà mỗi người phải nộp là chưa phù hợp và gây khó khăn cho việc thi hành án. Tuy nhiên, do bản án bị hủy toàn bộ nên trách nhiệm dân sự sẽ được quyết định sau khi vụ án được điều tra, xét xử lại.
[5] Từ những phân tích tại mục [2]; [3] và [4] HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm c khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với nội dung buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường toàn bộ thiệt hại được xác định trong vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 64.458.942 đồng.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với nội dung kháng nghị cấp sơ thẩm không căn cứ mức độ lỗi để quyết định số tiền bồi thường cụ thể của từng bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại Điều 587 Bộ luật dân sự và không xác định số tiền án phí dân sự sơ thẩm cụ thể mà mỗi người phải nộp là chưa phù hợp và gây khó khăn cho việc thi hành án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A.
Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum để điều tra lại.
12
[6] Về án phí: Căn cứ điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Các bị cáo có kháng cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với nội dung buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải bồi thường toàn bộ thiệt hại được xác định trong vụ án theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự là 64.458.942 đồng.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum đối với nội dung kháng nghị cấp sơ thẩm không căn cứ mức độ lỗi để quyết định số tiền bồi thường cụ thể của từng bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định tại Điều 587 Bộ luật dân sự và không xác định số tiền án phí dân sự sơ thẩm cụ thể mà mỗi người phải nộp là chưa phù hợp và gây khó khăn cho việc thi hành án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A.
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum để điều tra lại.
Giao hồ sơ cho Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Căn cứ điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Các bị cáo có kháng cáo Hà Ngọc B, Hà Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
13
|
- Lưu hồ sơ. |
Huỳnh Nguyên |
14
15
Bản án số 17/2024/HS-PT ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về hủy hoại rừng
- Số bản án: 17/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Ngọc Bình và đồng phạm phạm tội Hủy hoại rừng
