Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST

Ngày 17/4/2024

V/v: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Giáp Hồng Thanh;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Oanh;

Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-DS ngày 12/3/2024, quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2024/QĐST-DS ngày 28/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1960; địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: chị Bùi Thị H, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa ông Nguyễn Ngọc C trình bày:

Ông có quen biết chị Bùi Thị H, do cần chị H có hỏi vay tiền và ông đồng ý cho chị H vay tiền bằng hình thức chuyển khoản các lần tiền như sau:

  • Lần thứ nhất vào ngày 31/3/2022 ông đến ngân hàng TMCP N chi nhánh B tại phòng giao dịch huyện H trực tiếp nộp tiền vào số tài khoản: 0141000526434 ngân hàng thương mại cổ phần Á “viết tắt là VCB” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với số tiền là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).
  • Lần thứ hai vào ngày 26/4/2022 ông đến ngân hàng TMCP N chi nhánh B tại phòng giao dịch huyện H trực tiếp nộp tiền vào số tài khoản: 0141000526434 ngân hàng thương mại cổ phần Á “viết tắt là VCB” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với số tiền là 130.000.000₫ (một trăm ba mươi triệu đồng).
  • Lần thứ ba vào ngày 28/4/2022 ông đến ngân hàng TMCP N chi nhánh B tại phòng giao dịch huyện H trực tiếp nộp tiền vào số tài khoản: 0141000526434 ngân hàng thương mại cổ phần Á “viết tắt là VCB” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với số tiền là 20.000.000₫ ( hai mươi triệu đồng).
  • Lần thứ tư vào ngày 17/5/2022 ông đến ngân hàng TMCP N chi nhánh B tại phòng giao dịch huyện H trực tiếp nộp tiền vào số tài khoản: 0141000526434 ngân hàng thương mại cổ phần Á “viết tắt là VCB” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với số tiền là 70.000.000₫ (bẩy mươi triệu đồng).
  • Lần thứ năm vào ngày 03/6/2022 ông đến ngân hàng TMCP N chi nhánh B tại phòng giao dịch huyện H trực tiếp nộp tiền vào số tài khoản: 0141000526434 ngân hàng thương mại cổ phần Á “viết tắt là VCB” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với số tiền là 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng).

Tổng số tiền ông đã trực tiếp nộp vào tài khoản cho chị H vay là 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng). Chứng cứ là các giấy nộp tiền ông gửi cho chị H, khi vay hai bên có thoả thuận miệng lãi suất là 1%/ tháng. Sau đó ông đã đòi chị H nhiều lần nhưng đều khất nợ, do chị H không trả tiền vay nên ông có khởi kiện chị H đến Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và ngày 18 tháng 6 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã thụ lý vụ án, tuy nhiên chị H có trao đổi và có bản tự khai gửi Toà án là chị H thừa nhận có vay ông số tiền 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) do ông nộp tiền qua tài khoản của chị H nhiều lần từ ngày 31/3/2022 đến ngày 03/6/2022, chị H đã nhận được số tiền trên, nay chị H đồng ý trả cho ông số tiền vay, nhưng xin trả dần và đề nghị ông rút đơn khởi kiện, ngày 27/8/2023, ông đã rút đơn khởi kiện, ngày 28 tháng 8 năm 2024 Toà án đã đình chỉ giải quyết vụ án, vì giữa ông và chị H có thoả thuận miệng là đến ngày 01/11/2023 chị H trả tiền ông, đến hạn chị H không trả 370.000.000đ cho ông nên ông tiếp tục khởi kiện chị H.

Số tiền trên là tiền cá nhân của ông không liên quan đến vợ ông là bà Lê Thị H1 và không liên quan đến chồng chị H là anh Lê Văn L.

Nay ông yêu cầu chị Bùi Thị H trả ông số tiền vay là 370.000.000₫ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) và không yêu cầu trả tiền lãi suất.

Chị Bùi Thị H xin trả dần số tiền vay ông không đồng ý.

Bị đơn chị Bùi Thị H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị H, chị H có ý kiến như sau: Chị H thừa nhận có nhận 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) do ông Nguyễn Ngọc C chuyển khoản cho chị qua số tài khoản: 0141000526434 của Ngân hàng V. Nguồn gốc số tiền là ông C cho chị, chị không vay mượn gì ông C. Chị đồng ý trả ông C số tiền 370.000.000đ nhưng chị đang khó khăn chị xin trả dần số tiền trên cho ông C.

Tại phiên tòa chị H đều vắng mặt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Bùi Thị H không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 144, Điều 147, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc C. Buộc chị Bùi Thị H có trách nhiệm số tiền 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Ngọc C.

Ngoài ra còn xử lý về tiền án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Bùi Thị H có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bắc Giang, theo bản tự khai của chị H cung cấp địa chỉ: thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là đúng qui định.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với chị Bùi Thị H, Tòa án đã thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3].Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn chị Bùi Thị H, tuy nhiên chị H không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án, xét thấy chị H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và của BLTTDS, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án theo qui định của pháp luật.

Ông C xác định, anh Lê Văn L chồng chị H không có liên quan trong vụ án, vợ ông Nguyễn Thị H2 có đơn từ chối tham gia tố tụng. HĐXX không đưa họ tham gia tố tụng.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C:

Xét về yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc C chuyển khoản số tiền 370.000.000₫ là giao dịch dân sự thể hiện ý chí tự nguyện của các bên tham gia giao dịch, mục đích của giao dịch là các bên đều muốn đạt được khi xác lập, giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật. Do vậy giao dịch dân sư về nội dung và hình thức tuân thủ theo quy định tại Điều 117 và Điều 118 của Bộ luật dân sự.

Do ông Nguyễn Ngọc C và chị Bùi Thị H có mối quan hệ biết nhau với nhau từ trước, ông C có chuyển cho chị H vay tiền bằng hình thức: ông C chuyển khoản vào tài khoản của chị Bùi Thị H qua số tài khoản: 0141000526434 chủ tài khoản Bùi Thị H, cụ thể: ngày 31/3/2022 chuyển số tiền là 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng), ngày 26/4/2022 chuyển số tiền là 130.000.000₫ (một trăm ba mươi triệu đồng), ngày 28/4/2022 chuyển số tiền là 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), ngày 17/5/2022 chuyển số tiền là 70.000.000đ (bẩy mươi triệu đồng), ngày 03/6/2022 chuyển số tiền là 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng), tổng số tiền ông C đã trực tiếp nộp vào tài khoản cho chị H vay là 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng), mặc dù trong chứng từ giao dịch “Giấy nộp tiền” không ghi nội dung, ngày 18 tháng 6 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của ông C, tại bút lục số: 09 – Bản tự khai ngày 27/8/2023 của chị Bùi Thị H, sinh ngày 21/7 năm 1977; địa chỉ: thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang thừa nhận nội dung vay tiền do ông C chuyển khoản và xin trả dần đề nghị ông C rút đơn khởi kiện, cùng ngày 27 tháng 8 năm 2024 ông C rút đơn khởi kiện, ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số: 70/2024/QĐST-DS của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, do ông C đã khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Theo tài liệu Ngân hàng TMCP N (viết tắt: V1) cho biết, thông tin số tài khoản số 0141000526434 – chủ tài khoản Bùi Thị H, sinh ngày 21/7/1977, có 05 (năm) giao dịch nộp vào tài khoản 0141000526434 tại Ngân hàng V1: giao dịch đã được ghi có vào tài khoản, có chi tiết giao dịch.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, trong đó có quyết định cung cấp chứng cứ số: 10/2024/QĐ-CCTLCC ngày 16 tháng 02 năm 2024 cho nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn ông C có cung cấp 05 (năm) chứng từ giao dịch “Giấy nộp tiền” (bản gốc) có đóng dấu “NGÂN HÀNG TMCP N CHI NHÁNH B – ĐÃ THU TIỀN” cho Toà án. Bị đơn chị Bùi Thị H không cung cấp chứng cứ nhưng chị H có thừa nhận đã nhận tiền chuyển khoản từ ông Nguyên Ngọc C1 qua tài khoản số 0141000526434 Ngõn hàng TMCP N “viết tắt là vietcombanhk” tên chủ tài khoản là chị Bùi Thị H với tổng số tiền là 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng), chị H không vay mượn, nhưng chị H xin trả dần ông C1, xét đây là tình tiết các đương sự thừa nhận không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngoài ra theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của BLTTDS quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Từ những căn cứ nêu trên có đủ căn cứ buộc chị Bùi Thị H trả 370.000.000₫ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Ngọc C phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự là có căn cứ cần chấp nhận.

Chị H xin trả dần số tiền 370.000.000đ không có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về lãi suất: ông C không yêu cầu trả tiền lãi nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn chị Bùi Thị H phải chịu tiền án phí dân sự dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của BLTTDS; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (theo danh mục quy định tại điểm b mục 1.3 tiểu mục A), cụ thể: 370.000.000₫ x 5 % = 18.500.000đ.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 468, Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giam, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C: Buộc chị Bùi Thị H có nghĩa vụ trả số tiền 370.000.000đ (ba trăm bẩy mươi triệu đồng) cho ông Nguyễn Ngọc C.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

    Về lãi suất: Không xem xét giải quyết.

  2. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị H phải chịu 18.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - CCTHA huyện Tân Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 17/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chuyên - Hằng: VTS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger