|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Giao;
Bà Vũ Phương Nhung;
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao
Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham
gia phiên tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Trọng T; sinh ngày 10-8-1987 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: xóm H, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng M và bà Phạm Thị T1; có vợ Nguyễn Thị T2 (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 12-01-2024 đến nay; hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G; “có mặt”.
* Bị hại: Anh Doãn Văn T3, sinh năm 1990; trú tại: xóm H, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Mai Văn L, sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cùng làm nghề lái máy xúc và có mối quan hệ quen biết với nhau nên Phạm Trọng T biết anh Doãn Văn T3 là người cùng xóm có chiếc xe ô tô tải BKS 18N-2525. Vì cần tiền, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên của anh T3 để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 10 giờ ngày 01-01-2024 T gọi điện thoại cho anh T3 nói dối mượn chiếc xe trên để đi chở máy xúc. Anh T3 đồng ý và chỉ nơi đỗ xe cho T. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T một mình đi bộ đến nơi đỗ xe lấy xe và điều khiển chiếc xe trên đến bán cho anh Mai Văn L do biết anh L là người chuyên mua bán xe cũ. Khi mua bán xe, anh L có hỏi về nguồn gốc và giấy tờ xe thì T trả lời là xe của T đã bị mất giấy tờ, bán cho anh L với giá phế liệu. Anh L đồng ý mua chiếc xe trên với giá 36.000.000 đồng và chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng V số 9985530252 của T. Ngay sau khi nhận được tiền, T đã chuyển hết số tiền 36.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) số 8820498726, chủ tài khoản mang tên LUONG TU LINH để phục vụ công việc cá nhân. Đến ngày 02-01-2024, anh T3 không thấy T trả xe và biết T đã bán chiếc xe trên nên đã trình báo đến Công an xã H. Công an xã H đã triệu tập T và L lên làm việc. Quá trình làm việc, T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, anh Mai Văn L đã tự giác giao nộp chiếc xe ô tô tải BKS 18N – 2525
Tại bản kết luận số 01 ngày 12-01-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện G kết luận: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Cửu Long, loại xe tải ben, màu sơn xanh, số khung 00219, số máy 740018, đeo BKS 18N-2525, tình trạng đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm xảy ra vụ việc là 40.000.000 đồng .
Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 11-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Phạm Trọng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 174, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt Phạm Trọng T từ 15 năm đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A5, đã qua sử dụng, gắn thẻ SIM có số thuê bao 0985530252 đã thu giữ của bị cáo. Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phạm Trọng T phải bồi thường cho ông Mai Văn L số tiền 36.000.000 đồng.
Bị cáo Phạm Trọng T thừa nhận hành vi đã nêu, không tự bào chữa, tranh luận gì, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Phạm Trọng T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe ô tô tải BKS 18N - 2525 của anh Doãn Văn T3 để bán lấy tiền. Khoảng 10 giờ ngày 01-01-2024, T gọi điện thoại cho anh T3, nói dối mượn xe của anh T3 để chở máy xúc làm cho anh T3 tin tưởng và giao xe ô tô tải BKS 18N - 2525 trị giá 40.000.000đ cho T mượn. Sau khi mượn được xe, T mang chiếc xe tải trên bán cho anh Mai Văn L được 36.000.000đ và tiêu xài hết.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã cố lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt chiếc xe ô tô tải BKS 18N - 2525 của anh Doãn Văn T3 để bán lấy tiền. Hành vi của bị cáo được xác định là nguy hiểm cho xã hội do đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Trọng T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[6] Đối với anh Mai Văn L đã có hành vi mua xe ô tô tải BKS 18N - 2525 từ T, khi mua anh L không biết chiếc xe trên là tài sản do phạm tội mà có nên không đặt ra vấn đề xử lý.
[7] Đối với xe ô tô tải BKS 18N - 2525, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Doãn Văn T3 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả chiếc xe trên cho anh T3. Anh T3 đã nhận lại xe và không có đề nghị gì nên vấn đề dân sự không đặt ra.
[8] Đối với số tài khoản 8820498726 thuộc ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B), quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là Lương Tú L1, sinh ngày 18/10/1993, trú tại khu A, xã B, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã uỷ thác điều tra cho Cơ quan cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhưng đến nay chưa có kết quả nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Mai Văn L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 36.000.000 đồng là tiền anh L bỏ ra để mua chiếc xe trên, anh L đề nghị Tĩnh trả lại số tiền trên là có cơ sở chấp nhận.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A5, đã qua sử dụng, gắn thẻ SIM có số thuê bao 0985530252 Tĩnh sử dụng để liên lạc với anh T3 mượn xe ô tô; đồng thời cũng là phương tiện Tĩnh dùng để liên lạc hàng ngày vì vậy, không cần thiết tịch thu sung quỹ Nhà nước mà trả lại cho bị cáo là phù hợp.
[11] Bị cáo bị kết án và phải bồi thường nên phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
[12] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại. người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Trọng T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Phạm Trọng T 01 năm 03 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 03-01-2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Trả lại cho Phạm Trọng T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số loại A5, tình trạng đã qua sử dụng, gắn thẻ SIM có số thuê bao 0985530252 (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11-3-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phạm Trọng T phải bồi thường cho ông Mai Văn L số tiền 36.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Trọng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm..
6. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Quốc Tuấn |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trọng T
