Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 16/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Chung

Ông Nguyễn Trung Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09 ngày 19/06/2024 đối với bị cáo:

  1. V1: Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23 tháng 11 năm 1961 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Xuân Q và bà Kim Thị P; Vợ: Lê Thị D, sinh năm 1962 và 03 con; Con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/11/2023 cho đến nay. Có mặt.
  2. Lê Thị D: Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 05 năm 1962 tại huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ và bà Hoàng Thị N; Chồng: Vi Trường S, sinh năm 1961 và 03 con; Con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/11/2023 cho đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vi Trường S: Ông Hoàng Đức H - Trợ giúp viên pháp lý. Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Mạc Thị T. Sinh năm: 1976.
    Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Lục Văn Q1 – Sinh năm: 1993
    Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chị Vi Thị X – Sinh năm: 1980.
    Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Anh Vi Anh V – Sinh năm: 1984
    Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt anh Vi Anh V, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Mạc Thị T, chị Vi Thị X và anh Lục Văn Q1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ đầu năm 2020 đến ngày 15/11/2023, Vi Trường S, sinh năm 1961 và vợ là Lê Thị D, sinh năm 1962, cùng ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã cho nhiều người vay tiền, trong đó đã cho 04 người vay tiền lấy lãi bằng hình thức tín chấp và thế chấp, với mức lãi suất 120%/năm để thu lời bất chính (Tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự = Số tiền gốc khách vay x Số ngày vay x 0,2/365 ngày; Lãi suất thực thường (%/năm) = (Tiền lãi thực thu x 365)/(Tiền gốc x số ngày vay)*100%; Số tiền thu lợi bất chính = Số tiền lãi khách đã trả - Tiền lãi theo quy định của Bộ luật dân sự). Cụ thể như sau:

  1. Thông qua hình thức thế chấp sổ bảo lĩnh tiền bảo trợ xã hội của con gái chị T là cháu Vi Văn B, vợ chồng Vi Trường S1Lê Thị D đã cho chị Mạc Thị T, sinh năm 1976, ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay 02 lần tiền, thỏa thuận mức lãi suất 100.000đ/1.000.000đ/tháng, tương ứng với 120%/năm. Cụ thể:

    Ngày 22/9/2020, S1D cho chị T vay số tiền 3.000.000đ. Đến ngày 22/10/2020, S1D cho chị T vay tiếp số tiền 2.000.000đ. Gộp tổng số tiền của hai khoản vay thành 5.000.000 đ. Đến ngày 17/4/2023 chị T trả bớt nợ gốc cho vợ chồng S1, D là 750.000 đồng. Hiện nay, chị T còn nợ lại 4.250.000đ tiền gốc. Tính đến hết tháng 08 năm 2023, tổng số tiền lãi vợ chồng S1 đã thu của chị T là 18.900.000đ (Mười tám triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó số tiền lãi vợ chồng Duẩn S2 được hưởng theo quy định của Bộ luật dân sự là 2.833.333 đồng và đã thu lợi bất chính số tiền 16.066.667 đồng.

  2. Cho anh Lục Văn Q1, sinh năm 1993, ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vay 03 lần tiền, thỏa thuận mức lãi suất 100.000đ/1.000.000đ/tháng, tương ứng với 120%/năm. Cụ thể:

    Ngày 20/11/2021, vợ chồng Sinh D1 cho anh Q1 vay số tiền 4.000.000đ. Đến ngày 28/11/2021, vợ chồng S2, D1 cho anh Q1 vay số tiền 2.000.000đ. Đến ngày 07/12/2021, vợ chồng S2, D1 cho anh Q1 vay tiếp số tiền 3.000.000đ. Hiện anh Q1 chưa trả tiền gốc cho vợ chồng Vi Trường S1Lê Thị D.

    Tổng số lãi sẽ thu của ba khoản vay trên là 21.202.192 đồng, trong đó số tiền lãi sẽ được hưởng theo quy định của Bộ luật dân sự là 1.040.548 đồng và sẽ thu lời bất chính số tiền 20.161.644 đồng. Hiện anh Q1 chưa trả số tiền lãi nặng này cho vợ chồng S1, D.

    Ngoài ra, ngày 16/09/2022 và ngày 18/10/2022, anh Q1 vay thêm của vợ chồng S1, D2 (Hai) lần nữa số tiền lần lượt là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) với lãi suất là 70.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 84%/năm). Ngày 17/07/2023 và ngày 20/7/2023, anh Q1 vay thêm của vợ chồng S1, D2 (Hai) lần với số tiền mỗi lần vay là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), lãi suất là 50.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 60%/năm). Anh Q1 chưa trả gốc và lãi của các khoản vay nói trên.

  3. Cho vợ chồng chị Vi Thị X, sinh năm 1980, ở thôn C, xã T, huyện N vay 02 lần tiền, thỏa thuận mức lãi suất 100.000đ/1.000.000đ/tháng, tương ứng với 120%/năm. Cụ thể:

    Ngày 31/05/2020, vợ chồng chị X vay vợ chồng Vi Trường S1 số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) với lãi suất là 100.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 120%/năm). Đến tháng 01/2021, chị X trả cho vợ chồng S1 tính lãi từ cuối tháng 05/2020 đến đầu tháng 01/2021 là hơn 07 tháng nhưng chỉ tính 07 tháng tiền lãi là 4.200.000đ (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) và cộng thêm 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) tiền gốc, tổng cộng là 10.200.000đ. nhưng được bớt 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nên chị X trả cho vợ chồng S1 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) bằng tiền mặt.

    Vào ngày 15/01/2023, vợ chồng chị Vi Thị X vay vợ chồng Vi Trường S1 số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) với lãi suất là 100.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 120%/năm) và đề nghị cho mượn sổ thêm vài chục tấm tôn lợp mái với số tiền là 2.567.000đ, tổng cộng là 5.567.000đ (Năm triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) nhưng chỉ tính lãi của khoản vay 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Hiện, vợ chồng chị X chưa trả cho vợ chồng S1, D số tiền lãi, tiền gốc nào của khoản vay 3.000.000đ (Ba triệu đồng) và vẫn đang nợ lại số tiền 2.567.000đ (Hai triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) mua tấm lợp mái tôn. Số lãi sẽ thu được của khoản vay trên là 2.988.493 đồng, trong đó số tiền lãi sẽ được hưởng theo quy định của Bộ luật dân sự là 346.849 đồng và sẽ thu lời bất chính số tiền 2.641.644 đồng. Hiện chị X chưa trả số tiền lãi nặng này cho vợ chồng S1, D.

    Trong hai khoản vay trên, thì khoản vay ngày 31/05/2020 đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên không tính để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vi Trường S1Lê Thị D.

  4. Cho chị Vi Thị B1, sinh năm 1997, ở thôn L, xã T, huyện N vay 02 lần tiền, thỏa thuận mức lãi suất 100.000đ/1.000.000đ/tháng, tương ứng với 120%/năm. Cụ thể:

    Thông qua hình thức thế chấp sổ bảo lĩnh tiền bảo trợ xã hội của con gái chị bào là cháu Vi Thị N1. Ngày 05/01/2020, chị B1 vay vợ chồng Vi Trường S1 số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) với mức lãi suất là 100.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 120%/năm) và đến ngày 26/01/2020, chị B1 vay thêm vợ chồng Sinh 2.000.000đ (Hai triệu đồng) với lãi suất là 100.000đ/1.000.000đ/tháng.

    Đến ngày 10/02/2021, chị B1 tiếp tục đến nhà vay thêm của vợ chồng Vi Trường S1 số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) và thỏa thuận hạ lãi suất xuống 60.000đ/1.000.000đ/tháng (Tương đương với 72%/năm). Từ khi vay đến tháng 08/2023 chị B1 trả lãi cho vợ chồng S1 Duẩn qua tiền bảo trợ xã hội của con gái chị B1 là cháu Vi Thị N1. Bắt đầu tháng 09/2023 trở đi, bưu điện thay đổi hình thức chi trả tiền trợ cấp xã hội là chuyển thẳng tiền vào tài khoản ngân hàng của chị B1 và chị B1 đã giữ lại sử dụng mà không giao lại vợ chồng S1 nữa. Đến đầu tháng 11/2023, vợ chồng S1 tính số tiền lãi 02 tháng (Tháng 09/2023 và Tháng 10/2023) là 1.080.000đ (Một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng), làm tròn là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và thống nhất với chị B1 cộng thêm 9.000.000đ (Chín triệu đồng) tiền gốc thì chị B1 còn nợ của vợ chồng S1, D số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Hiện chị B1 vẫn còn vay của vợ chồng S1, D số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

    Trong các khoản cho chị B1 vay thì hai khoản vào ngày 05/01/2020 và ngày 26/01/2020 đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, khoản ngày 10/02/2021 lãi suất không vượt quá 05 lần mức lãi suất quy định mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự do đó không tính để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vi Trường S1Lê Thị D.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phong tỏa tài khoản ngân hàng A, số 3520205077793 mang tên “VI TRUONG SINH” tại Ngân hàng N2 (4) chi nhánh huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Thời điểm bị phong tỏa, trên tài khoản còn số tiền 4.060.515đ (Bốn triệu không trăm sáu mươi nghìn năm trăm mười lăm đồng).

Bản cáo trạng số 15/CT- VKSNX ngày 18/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân đã truy tố bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Ngày 19/06/2024 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Vi Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa yêu cầu về dân sự người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Mạc Thị T thương yêu bị cáo S1, D hoàn trả lại cho chị T toàn bộ số tiền các bị cáo đã thu lợi bất chính là 16.066.667 đồng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lục Văn Q1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà. Và cũng không có ý kiến gì về dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vi Anh V không có yêu cầu gì đối với bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D.

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Trường S, Lê Thị D mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung Vi Trường S, Lê Thị D mỗi bị cáo 30 đến 35 triệu đồng.

Ngoài ra đại diện viện kiểm sát nhân dân đề nghị xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo, đề nghị buộc bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vi Trường S.

Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý ông Hoàng Đức H bào chữa cho bị cáo Vi Trường S1 nêu quan điểm: Nhất trí với Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Vi Trường S về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo Vi Trường Sinh được hưởng mức án thấp nhất của hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành công dân tốt; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Về án phí: Do bên thân bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo S thống nhất với quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung ý kiến bào chữa.

Các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D thống nhất không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Về tội danh: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên khoảng từ đầu năm 2020 đến ngày 15/11/2023, lợi dụng nhu cầu vay tiền của người dân trên địa bàn huyện N, Vi Trường SLê Thị D đã sử dụng tổng số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) cho 04 cá nhân vay với lãi suất gấp trên 05 lần lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự (tức là lãi suất trên 100%/năm) để thu lợi bất chính tổng số tiền 38.369.726 đồng trong đó Vi Trường S, Lê Thị D đã nhận được 16.066.667 đồng22.303.059 đồng người vay chưa thanh toán cho vợ chồng D, S theo thỏa thuận. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
  3. Các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để thu lợi bất chính với tổng số tiền 38.369.726 đồng là xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến quyền, lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ. Nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D là người hiểu biết nhưng lại lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để cho vay lãi nặng và thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội và có tính chất ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.

    Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án có nhiều người tham gia nhưng không có tính chất chủ mưu cầm đầu mà chỉ mang tính bột phát, không có người khởi xướng, không có sự phân công vai trò, không cấu kết chặt chẽ trong thực hiện hành vi phạm tội nên chỉ là đồng phạm giản đơn giữa bị cáo S1 và bị cáo D. Nhưng cũng cần phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi của từng bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

  5. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

    Các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải về lỗi lầm đã phạm. Bị cáo Vi Trường S hiện nay đang điều trị bệnh hiểm nghèo (Bị K Tuyến giáp), bị cáo Lê Thị D hiện đang điều trị bệnh tiểu đường, thường xuyên phải đi điều trị tại bệnh viện. Mặc khác khi hành vi phạm tội bị phát hiện các bị cáo đã ra đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

  6. Về hình phạt:

    Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội trên cơ sở xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Để đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhưng đồng thời cũng để các bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật. Xét thấy bị cáo S1, D đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trước lần phạm tội này các bị cáo đều có nhân thân tốt, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc khác bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng nên đối với các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

    Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo Vi Trường S hiện nay đang điều trị bệnh hiểm nghèo (Bị K Tuyến giáp), bị cáo Lê Thị D hiện đang điều trị bệnh tiểu đường, thường xuyên phải đi điều trị tại bệnh viện. Mặc khác các bị cáo đều là lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định nên cần xem xét miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo là phù hợp.

    Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, vì vậy đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo của đại diện viện kiểm sát là có cơ sở nên hội đồng xét xử chấp nhận.

  7. Về trách nhiệm dân sự:

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Mạc Thị T thương yêu bị cáo S, D hoàn trả lại số tiền 16.066.667 đồng (Mười sáu triệu không trăm sáu sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng), đây là số tiền các bị cáo đã thu lợi bất chính nên yêu cầu trả lại số tiền trên của chị Mạc Thị T là có cơ sở do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận.

  8. Xét về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

    * Về vật chứng:

    • Đối với 01 sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội hàng tháng mang tên Vi Thị N1, địa chỉ thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đây là sổ bảo lĩnh tiền bảo trợ xã hội của con gái chị B1 là cháu Vi Thị N1. Hiện nay bưu điện đã thay đổi hình thức chi trả tiền trợ cấp xã hội là chuyển thẳng tiền vào tài khoản ngân hàng của đối tượng được hưởng trợ cấp nên sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội hàng tháng, quyền sổ không còn giá trị sử dụng do đó Hội đồng xét xử xét thấy tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
    • 01 quyển sổ ghi chép, mặt trước có ghi chữ “GENERAL BOOK mã số 515*420 trang, loại sổ kẻ ngang, có 44 trang đã được viết chữ, đánh số thứ tự từ 01 đến 44. Đây là tài liệu thể hiện hành vi phạm tội bị cáo nên cần lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.
    • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1945810 ngày 30/6/1998 mang tên Lục Văn A. Đây là tài sản mà Lục Văn Q1 (Con đẻ của ông Lục Văn A) đưa cho bị cáo S để vay tiền nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

    - Đối với số tiền 38.869.995 đồng là tổng số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm: Đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Trong đó, số tiền thu lợi bất chính bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D thực tế đã thu là 16.066.667 đồng; số tiền còn lại 22.803.288 đồng gồm 20.161.644đ là số tiền anh Lục Văn Q1 chưa thanh toán lại cho bị cáo S1D theo thỏa thuận và 2.641.644 đồng là số tiền chị Vi Thị X chưa thanh toán lại cho bị cáo S1D theo thỏa thuận. Đối với số tiền 16.066.667 đồng thực tế bị cáo S1D đã thu của chị T, hiện các bị cáo S1, D chưa hoàn trả lại số tiền thu lợi bất chính này cho chị Mạc Thị T, chị T đã có đơn yêu cầu bị cáo S1D phải liên đới hoàn trả lại số tiền cho chị T nên buộc các bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D phải hoàn trả số tiền 16.066.667 (Mười sáu triệu, không trăm sáu sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy đồng) cho chị T là phù hợp.

    - Đối với số tiền gốc (số tiền các bị cáo cho vay), cụ thể: Cho chị Mạc Thị T vay 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), cho anh Lục Văn Q1 vay 9.000.000 (Chín triệu) đồng, cho chị Vi Thị X vay 3.000.000 (Ba triệu) đồng; tổng cộng là 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng, đây là công cụ phương tiện phạm tội trong vụ án do các bị cáo thực hiện. Do chị T mới trả cho bị cáo 750.000 đồng tiền gốc, chị X chưa trả số tiền 3000.000 đồng đã vay cho bị cáo, Anh Lục Văn Q1 chưa trả số tiền gốc 9.000.000 đồng cho các bị cáo nên cần truy thu tịch thu số 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng từ bị cáo S1D để sung vào ngân sách Nhà nước. Truy thu của chị Mạc Thị T số tiền 4.250.000đ (Là số tiền gốc mà chị T đã vay của S1D chưa trả). Truy thu của anh Lục Văn Q1 số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng. Truy thu của chị Vi Thị X số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Tất cả số tiền truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

    - Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (không quá 20%/năm). Đây là số tiền phát sinh từ tội phạm, do phạm tội mà có, do đó cần truy thu tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Do thực tế các bị cáo đã thu của chị T 2.833.333 đồng nên cần truy thu số tiền 2.833.333 đồng từ các bị cáo S1D để sung vào ngân sách Nhà nước.

    - Đối với số tiền 4.060.515 (Bốn triệu, không trăm sáu mươi nghìn, năm trăm mười lăm) đồng trong tài khoản ngân hàng đã bị phong tỏa cần tiếp tục phong tỏa số tiền 4.060.515 (Bốn triệu, không trăm sáu mươi nghìn, năm trăm mười lăm) đồng trong tài khoản ngân hàng A, số tài khoản 3520205077793 mang tên Vi Trường S để đảm bảo thi hành án.

  9. Về án phí:

    Bị cáo Lê Thị D là người bị kết án nên buộc bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

    Bị cáo Vi Trường S là người bị kết án nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo của trợ giúp viên pháp lý và đại diện viện kiểm sát là có cơ sở nên cần chấp nhận.

  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 36 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 23; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Vi Trường SLê Thị D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

Bị cáo Vi Trường S 07 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Bị cáo Lê Thị D 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao Ủy ban nhân dân xã T, huyện N giám sát giáo dục trong thời gian các bị cáo Vi Trường S, Lê Thị D chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Về khấu trừ thu nhập:

Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Vi Trường S, Lê Thị D.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung:

Xử phạt bị cáo Vi Trường S, Lê Thị D mỗi bị cáo 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D phải liên đới hoàn trả cho chị Mạc Thị T có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa số tiền 16.066.667 đồng (Mười sáu triệu, không trăm sáu sáu nghìn, sáu trăm sáu bảy đồng).

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội hàng tháng mang tên Vi Thị N1. Địa chỉ: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • Lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án: 01 quyển sổ ghi chép, mặt trước có ghi chữ “GENERAL BOOK mã số 515*420 trang, loại sổ kẻ ngang, có 44 trang đã được viết chữ, đánh số thứ tự từ 01 đến 44.
  • Trả lại cho anh Lục Văn Q1 Nơi cư trú thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa tài liệu gồm: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1945810 ngày 30/6/1998 mang tên Lục Văn A.

(Các vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 21/2024/TSTV ngày 26/04/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân).

* Về biện pháp tư pháp:

  • Truy thu của bị cáo Vi Trường S1Lê Thị D để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.583.333 đồng (Ba triệu, năm trăm tám ba nghìn, ba trăm ba ba đồng) trong đó: Tiền gốc các bị cáo cho vay đã thu về 750.000 đồng và 2.833.333 đồng (Là tiền lãi đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong mức lãi xuất 20%);
  • Truy thu của chị Mạc Thị T, Sinh năm: 1976, Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 4.250.000 (Bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
  • Truy thu của anh Lục Văn Q1, Sinh năm: 1993. Nơi cư trú: thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
  • Truy thu của chị Vi Thị X, Sinh năm: 1980. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
  • Tiếp tục phong tỏa số tiền 4.060.515 (Bốn triệu, không trăm sáu mươi nghìn, năm trăm mười lăm) đồng trong tài khoản ngân hàng A, số tài khoản 3520205077793 mang tên Vi Trường S để đảm bảo thi hành án.

Về án phí:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Trường S.

Bị cáo Lê Thị D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/07/2024). Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan;
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an huyện Như Xuân;
  • - Phòng 7/KSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Trường S và Lê Thị D, phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger