TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-5-2024 "V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con" | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân.
Bà Hoàng Thu Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Loan - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1982; Đăng ký hộ khẩu và hiện cư trú tại: Số 7/90 TB, khu 1, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu và hiện cư trú tại: Số 7/90 TB, khu 1, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 29/12/2023 và bản tự khai, biên bản hòa giải của nguyên đơn là chị Phạm Thị Lụa trình bày:
Chị và anh Phạm Xuân H được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương vào ngày 23/01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh H không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau khiến cho cuộc sống vợ chồng vô cùng căng thẳng. Do mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên năm 2020 chị đã làm đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương. Trong quá trình giải quyết nghĩ đến con nhỏ và hi vọng anh H sẽ thay đổi nên chị đã rút đơn và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án (Quyết định đình chỉ số 56 ngày 17/6/2020). Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, không có sự hòa hợp nên không chia sẻ được tất cả các vấn đề trong cuộc sống nên tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Mặc dù vợ chồng sống cùng nhà nhưng đã ly thân mỗi người một phòng không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Đến nay, chị xác định giữa chị và anh H không có tiếng nói chung, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Hiện tại thu nhập của chị khoảng hơn 20.000.000 đồng/tháng, nếu được ly hôn anh Hưng chị sẽ chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương sinh sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phạm Quỳnh Ch - sinh ngày 08/8/2018 và Nguyễn Phạm Thùy A - sinh ngày 07/6/2021. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thùy A, anh H nuôi dưỡng cháu Quỳnh Ch. Hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản, nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024, anh H trình bày: Anh và chị Phạm Thị L tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương vào ngày 23/01/2017. Vợ chồng anh chị vẫn sống hạnh phúc nhưng bất đồng về suy nghĩ, chị L luôn nghĩ anh H có tình nhân bên ngoài, trong cuộc sống không tin tưởng lẫn nhau. Nếu chị L vẫn muốn ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phạm Quỳnh Ch - sinh ngày 08/8/2018 và cháu Nguyễn Phạm Thùy A - sinh ngày 07/6/2021, nếu vợ chồng ly hôn, anh mong muốn được nuôi cả 02 cháu, không yêu cầu chị Lụa cấp dưỡng;
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ông Đào Văn T – Trưởng khu 1, phường T, thành phố Hải Dương cho biết: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ số 7/90 TB, phường T, thành phố Hải Dương. Việc mâu thuẫn của anh H và chị L ông không nắm được, đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị L có đơn xin xử vắng mặt, về quan điểm vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn anh Nguyễn Xuân H; Về con chung: Xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Phạm Quỳnh Ch -sinh ngày 08/8/2018 và Nguyễn Phạm Thùy A - sinh ngày 07/6/2021. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thùy A, anh H nuôi dưỡng cháu Quỳnh Ch. Hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng nhau.
Về tài sản, nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện VKSND thành phố Hải Dương phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký Tòa án từ khi thu lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều được đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
* Hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1, 3 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Về quan hệ vợ chồng: Đề nghị xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Quỳnh Ch - sinh ngày 08/8/2018 cho anh Phạm Xuân H chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao con chung Nguyễn Phạm Thùy A – sinh ngày 07/6/2021 cho chị Phạm Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 5 năm 2024 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng nhau.
- Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án vì bị đơn là anh Nguyễn Xuân Hưng trú tại: Số 7/90 TB, khu 1, phường T, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị L có đơn xin xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do nhưng đã được tống đạt hợp lệ theo định pháp luật. Do vậy, căn cứ khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã Ngũ Phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/01/2017, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Căn cứ vào lời khai của các đương sự, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Quá trình chung sống, chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H đã phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện hai bên không tin tưởng nhau trong tình cảm vợ chồng, không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2020, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng chị L đã nộp đơn ly hôn, sau đó Tòa án đã quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do chị L rút đơn. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tồn tại đến nay. Mặc dù anh Hưng có quan điểm không đồng ý ly hôn nhưng lý do không vì bản thân anh còn yêu thương muốn chung sống cùng chị L mà anh muốn níu kéo hai vợ chồng ở với nhau để nuôi dưỡng con chung, nhưng nếu chị L kiên quyết ly hôn anh, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Mặt khác anh cũng không có biện pháp tích cực để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa do Tòa án triệu tập anh H đều vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh không mong muốn được đoàn tụ cùng chị L.
[5] Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị L là có cơ sở. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân H.
[6] Về quan hệ nuôi con: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H có 02 con chung là Nguyễn Phạm Quỳnh Ch- sinh năm 08/8/2018 và cháu Nguyễn Phạm Thùy A- sinh ngày 07/6/2021. Chị L có quan điểm muốn nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phạm Thùy A, còn anh H nuôi cháu Quỳnh Ch; anh H có quan điểm được nuôi dưỡng cả 02 con. HĐXX nhận thấy: yêu cầu nuôi con của anh chị là chính đáng. Xét về điều kiện kinh tế và nơi ở: cả hai đều có thu nhập ổn định và có nơi ở đảm bảo sự phát triển và cuộc sống các con. Tuy nhiên, hiện tại cháu Thùy A dưới 36 tháng tuổi mà theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy đình: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi...”. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, giao con chung Thùy A cho chị L trực tiếp, nuôi dưỡng; giao con chung Quỳnh Ch cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 5 năm 2024 đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[7] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H mỗi người nuôi 01 con chung nên hai bên không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
[8] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H đều xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên không HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Xuân H được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, khoản 3 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân H.
- Về quan hệ nuôi con: Giao con chung Nguyễn Phạm Thùy A - sinh ngày 07/6/2021 cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Giao con chung Nguyễn Phạm Quỳnh Ch - sinh ngày 08/8/2018 cho anh Nguyễn Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc kể từ tháng 5 năm 2024 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không ai phải cấp dương tiền nuôi con chung.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số 0002861 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị L, anh Nguyễn Xuân H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Khánh Thiện |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị L - Nguyễn Xuân H
