Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 16 - 5 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp chia tài sản

khi ly hôn, đòi lại tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Trúc Phương.

Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 19 tháng 3 và ngày 09, 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2023/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” và “tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn N, sinh năm 1965; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
  2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Phi T, là Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; có mặt

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1975; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 1996; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; có mặt ngày 19/3/2024.
    2. Người đại diện hợp pháp của chị T1: Ông Bùi Ngọc T2, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của chị T1 “được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 30/01/2023; có mặt.

    3. Anh Lý Hồ H, sinh năm 1990; địa chỉ: Số D đường C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ; có mặt ngày 19/3/2024.
    4. Người đại diện hợp pháp của anh H: Ông Bùi Ngọc T2, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ G, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của anh H “được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 28/9/2023; có mặt.

    5. Cháu Trần Đăng K, sinh ngày 27/7/2014;
    6. Người đại diện hợp pháp của cháu K: Chị Trần Thị Cẩm T1, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo pháp luật của cháu K; có mặt ngày 19/3/2024.

      Người đại diện theo ủy quyền của chị T1: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1975; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2024); có mặt.

    7. Anh Ngô Văn C, sinh ngày 28/10/2006; có đơn xin vắng mặt.
    8. Người đại diện theo pháp luật của anh Ngô Văn C:

      Ông Ngô Văn N, sinh năm 1965; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

      Bà Trần Thị N1, sinh năm 1975; đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, Đồng Tháp; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.

    9. Anh Bùi Dân G, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin vắng mặt.
    10. Chị Ngô Thị T3, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin vắng mặt.
    11. Chị Ngô Thị T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin vắng mặt.
    12. Công ty B1.
    13. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ánh T5 - chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Số A, N, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin vắng mặt.

  5. Người kháng cáo: Ông Ngô Văn N là nguyên đơn; chị Trần Thị Cẩm T1 và anh Lý Hồ H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngô Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Ông N và bà Trần Thị N1 chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 01/10/2002. Thời gian sống chung vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng, nguyên nhân vợ chồng không phù hợp về quan điểm trong cuộc sống, bà N1 không lo cho gia đình, không lo cho chồng con. Xét thấy tình cảm không còn nên ông N yêu cầu ly hôn bà N1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Ngô Thị T3, sinh năm 2000 và Ngô Văn C, sinh ngày 28/10/2006, hiện con chung đang sống chung với ông N. Khi ly hôn, ông N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Văn C, không yêu cầu bà N1 cấp dưỡng cho con; con chung Ngô Thị T3 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Ngô Thị T4 (là con riêng của ông N) và chị Trần Thị Cẩm T1 (là con riêng của bà N1), hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng chung sống với nhau có tích góp mua được hai phần đất đã cất nhà ở gồm:

  • Một căn nhà cấp 4 gắn liền với đất thuộc thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Hiện nhà ở và đất do ông N đang sử dụng để ở cùng các con là chị Ngô Thị T3 và anh Ngô Văn C).
  • Một căn nhà gắn liền với đất thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 57, diện tích 48m², tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Hiện nhà ở và đất do bà N1 đang sử dụng để ở).

Trong quá trình sống chung, ông N không biết chữ, bất tiện trong việc mua bán và thương vợ nên để cho vợ thay cho hộ gia đình đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Vợ chồng cùng nhau mua sắm vật dụng trong nhà gồm: 01 cái tivi, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 tủ búp phê bằng kín, 01 tủ kệ tivi, 01 máy giặt, 01 tủ lạnh, 01 tủ thờ bằng gỗ, 01 chiếc xe gắn máy hiệu wave, 01 tủ quần áo. Trong quá trình Tòa án giải quyết, bà N1 tự ý rời căn nhà mà ông N đang ở và lấy đi toàn bộ vật dụng trong nhà gồm: 01 cái tivi, 01 bộ bàn ghế gỗ, 01 tủ búp phê bằng kín, 01 tủ kệ tivi, 01 máy giặt, 01 chiếc xe gắn máy và 01 tủ quần áo; ông N chỉ quản lý, sử dụng các vật dụng còn lại gồm 01 tủ thờ bằng gỗ, 01 tủ thờ cúng cha mẹ ông N, 01 cái tủ lạnh.

Do chưa xác định khối tài sản mà ông N và bà N1 đã mua sắm trong thời kỳ hôn nhân là tài sản của ai hay là tài chung phải chia, nhưng bà N1 đã về căn nhà ở xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để sinh sống ổn định, ông N và các con là chị T3, anh C cùng cháu ngoại 02 tuổi đang sinh sống ở căn nhà tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để chờ Tòa án giải quyết. Vào ngày 09/8/2022, sau khi bà N1 đã lấy hết tài sản tại căn nhà ở xã T, ném quần áo, bát hương thờ cúng cha mẹ ông N ra sân và khoá cửa nhà không cho ông ở nữa. Nay ông N yêu cầu:

Trong vụ việc nêu trên khi chưa có quyết định cuối cùng của Toà án về hai căn nhà nêu trên theo Luật quy định, những tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng. Việc bà N1 đã về căn nhà tại xã A ở ổn định, thì ông N, các con và cháu cũng phải được ở căn nhà tại xã T để chờ Tòa án giải quyết, về con thì có con chung giữa ông N và bà N1 là anh Ngô Văn C đang sống trong nhà. Sau khi có kết luận cuối cùng của Toà án, xác định là tài sản riêng của bà N1 thì ông N cùng các con và cháu ngoại sẽ đi, không nói gì thêm.

Ông N thống nhất chia cho bà N1 tài sản chung hiện ông N đang giữ có tổng giá trị là 11.000.000 đồng gồm: 01 chiếc xe wave Alpha biển số 60 M9.1361, trị giá 2.000.000 đồng, 01 tủ búp phê bằng kính trị giá 1.800.000 đồng, 01 tủ thờ bằng gỗ trị giá 4.000.000 đồng, 01 tủ lạnh trị giá 2.000.000 đồng, 01 tủ quần áo nhôm có trị giá 1.200.000 đồng.

Ông N yêu cầu bà N1 chia cho ông N tài sản chung hiện bà N1 đang giữ có tổng giá trị là 22.500.000 đồng gồm: 01 chiếc xe wave Alpha biển số 66 H1.31657 trị giá 9.000.000 đồng, 01 cái ti vi hiệu S trị giá 3.000.000 đồng, 01 cái tủ kệ ti vi trị giá 100.000 đồng, 01 bộ bàn ghế gỗ trị giá 9.000.000 đồng, 01 máy giặt trị giá 1.400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mỗi người được hưởng là 16.750.000 đồng (11.000.000 đồng + 22.500.000 đồng = 33.500.000 đồng: 2 = 16.750.000 đồng). Tài sản của ai đang quản lý, sử dụng thì người đó tiếp tục quản lý, sử dụng. Do vậy ông N yêu cầu bà N1 trả lại giá trị chênh lệnh tài sản là 5.750.000 đồng.

- Ông N yêu cầu chia đôi 50 chỉ vàng 18kara 07 tuổi, trong đó bà N1 đang quản lý 40 chỉ, ông N đang quản lý 10 chỉ. Mỗi người được hưởng 25 chỉ nên ông N yêu cầu bà N1 chia cho ông N 15 chỉ vàng 18kara 07 tuổi.

- Đối với số tiền 150.000.000 đồng bà N1 bán nhà và đất có nguồn gốc của vợ chồng, dùng tài sản chung do vợ chồng tạo lập để mua đất của anh T6 giá 5.000.000 đồng, diện tích 24m² (4x6), sau đó vợ chồng mua thêm của ông Đ diện tích đất 32m² (4x8) giá 32.000.000 đồng, ông N lấy xác nhà cũ của cha ông Ngộ để cất trên phần đất này, không nhớ mua năm nào, lúc mua nền nhà này thì con gái riêng bà N1 là Cẩm T1 còn đi học. Ông N không thống nhất việc bà N1 trình bày đã chi hết số tiền này vào việc mua bảo hiểm, bởi việc mua bảo hiểm trước khi vợ chồng bán phần tài sản này. Ông N yêu cầu bà N1 chia đôi số tiền này cho ông được hưởng 75.000.000 đồng.

- Ông N không đồng ý về yêu cầu chia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vì đây là bảo hiểm cá nhân của từng người, ai đang đứng tên hợp đồng bảo hiểm là của người đó. Ông N không thống nhất việc bà N1 yêu cầu chia hay hủy 02 hợp đồng bảo hiểm số 08702700003207 và 05702700046092. Đối với Hợp đồng bảo hiểm số 05702700045736, bên mua bảo hiểm: Trần Thị N1, người được bảo hiểm: Ngô Văn C thì ông N không có yêu cầu hay tranh chấp gì đối với bà N1 trong vụ án này.

Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng không nợ ai nên không có nợ chung như bản khai ngày 24/8/2022 bà N1 đã trình bày. Đối với các người nợ đã thiếu vợ chồng ông N thì ông N không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Đối với yêu cầu độc lập của anh Lý Hồ H yêu cầu ông N trả nhà ở và đất tại xã T, thành phố H và xã A, huyện T thì ông N không đồng ý vì đây là tài sản chung của ông N và bà N1.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Ngô Văn N trình bày:

Thống nhất theo lời trình bày của ông N. Những nội dung mà các đương sự tự nguyện thoả thuận thì ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự. Đối với số tiền 150.000.000 đồng, là phần bán căn nhà và đất do cha ông N có lập di chúc để lại cho ông N và chị T4, trong quá trình giải quyết vụ án chị T4 không yêu cầu, không tranh chấp phần tài sản này mà cho rằng đây là tài sản chung của cha mẹ nên xác định đây là tài sản chung của ông N và bà N1. Bà N1 có thừa nhận bán nhà và đất được 150.000.000 đồng nên bà N1 phải có nghĩa vụ chia cho ông N 75.000.000 đồng. Đối với 40 chỉ vàng 18kara 07 tuổi mà ông N thừa nhận có đeo khoảng hơn một cây nhưng do chị T1 sắm cho đeo không phải là tài sản chung, còn việc đi sắm, có đeo là có thật nhưng có bán để chi xài hết cho gia đình hay không thì đề nghị Hội đồng xem xét có thể không đặt ra vấn đề để chia. Phần đất và nhà ở xã T là mua của ông T7 vào khoảng năm 2014 - 2015, đến năm 2019 mới đổi với ông P rồi cất nhà, ông N thừa nhận có công sức đóng góp của chị T1 nhưng lúc này chị T1 đã chấp nhận mua đất, cất nhà cho cha mẹ ở nên đất và nhà ở là của cha mẹ nên xác định đây là tài sản chung của ông N và bà N1; hiện ông N và các con đang sống trong nhà nên đề nghị chấp nhận cho ông N được tiếp tục quản lý, sử dụng đất và nhà ở này, ông N sẽ trả lại phân nửa giá trị nhà ở và đất cho bà N1. Phần đất và nhà ở xã A, khi mua ông N có ký tên trong giấy tay mua bán đất và nhà ở nên đây là tài sản chung của ông N và bà N1 nên buộc bà N1 phải chia cho ông N phân nửa giá trị nhà ở và đất này. Đối với yêu cầu độc lập của anh Lý Hồ H thì ông N không đồng ý vì yêu cầu của anh H không có căn cứ.

Bị đơn Trần Thị N1 trình bày:

Về hôn nhân: Bà N1 và ông Ngô Văn N chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào năm 2002. Quá trình sống chung có hạnh phúc, đến tháng 5/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N không lo làm ăn, không lo cho gia đình và thường xuyên bạo lực đối với bà N1 nên bà N1 thống nhất ly hôn theo yêu cầu của ông N.

Về con chung: Có 02 con chung là Ngô Thị T3, sinh năm 2000 và Ngô Văn C, sinh ngày 28/10/2006, hiện con chung đang sống chung với ông N. Nay ông N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngô Văn C, bà N1 thống nhất giao Ngô Văn C cho ông N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, bà N1 không cấp dưỡng cho con; con chung Ngô Thị T3, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Ngô Thị T4 (là con riêng của ông N), chị Trần Thị Cẩm T1 (là con riêng của bà N1), đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà N1 thống nhất với lời trình bày của ông N về các tài sản trong nhà mà ông N và bà N1 đang quản lý, sử dụng. Bà N1 thống nhất trả cho ông N giá trị tài sản chênh lệnh là 5.750.000 đồng. Tài sản của ai đang quản lý, sử dụng thì người đó tiếp tục quản lý, sử dụng.

Đối với 13 chỉ vàng 18kara hiện ông N đang giữ, bà N1 yêu cầu chia đôi, bà N1 được hưởng 6,5 chỉ vàng 18kara 07 tuổi. Bà N1 không thống nhất việc ông N yêu cầu chia cho ông N 15 chỉ vàng 18kara 07 tuổi vì bà N1 không có quản lý 40 chỉ vàng như ông N trình bày, bởi không có số vàng này.

Ông N là bên mua Hợp đồng bảo hiểm số 08702700003207 (người được bảo hiểm là ông N) và Hợp đồng bảo hiểm số 05702700046092 (người được bảo hiểm là Trần Đăng K). Bà N1 yêu cầu chấm dứt hợp đồng đối với hai hợp đồng này và yêu cầu chia đôi số tiền được Công ty bảo hiểm hoàn lại như sau: Hợp đồng bảo hiểm số 05702700046092 giá trị hoàn lại đến thời điểm 27/04/2023 là 17.633.734 đồng; Hợp đồng bảo hiểm số 08702700003207 giá trị hoàn lại đến ngày 31/03/2023 là 51.251.583 đồng; Tổng số tiền là 68.885.317 đồng, mỗi người được hưởng là 34.442.659 đồng. Hợp đồng bảo hiểm số 05702700045736 (Bên mua bảo hiểm: Trần Thị N1, người được bảo hiểm: Ngô Văn C thì bà N1 yêu cầu tiếp tục đóng số tiền hợp đồng này và bà N1 là người thụ hưởng hợp đồng này nên không yêu cầu chia. Bà N1 không yêu cầu tranh chấp gì về Hợp đồng bảo hiểm số 05702700045736 trong vụ án này.

Bà N1 không đồng ý yêu cầu chia diện tích đất 110m² cùng căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp do bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất 48m² cùng căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, thuộc thửa số 19, tờ bản đồ số 57, toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N vì đây là tài sản riêng của bà N1. Trong thời gian sống chung với ông N, con bà N1 là chị T1 có đưa tiền cho bà N1 mua nền nhà và cất nhà, hai nền nhà này bà bà N1 đứng tên sở hữu riêng. Hiện ông N đang ở căn nhà cấp 4 gắn liền diện tích đất 110m² thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 10, tọa lạc xã T, thành phố H thì không còn căn nhà nào khác để ở, bà N1 sẽ trả công sức đóng góp cho ông N về phần tài sản này là 35.000.000 đồng, không đồng ý chia đôi giá trị nhà ở và đất theo yêu cầu của ông N.

Số tiền vợ chồng bà N1 bán nền, nhà tại ấp T, xã T cho ông Nguyễn Văn C1 và bà H1 được 150.000.000 đồng là vào năm 2020, sau một năm khi bà mua nền và xây căn nhà diện tích 110m2 tại xã T. Nguồn gốc nền nhà này không phải của bên chồng bà N1, mà là con bà N1 mang tiền về mua của ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1961 ở ấp T, xã T. Số tiền 150.000.000 đồng này vợ chồng sử dụng vào việc chung nên không còn như: Mua bảo hiểm nhân thọ cho ông N số tiền mua bảo hiểm gốc là 60.000.000 đồng bà N1 đã nộp cho công ty B2, họ tên ông N trong hợp đồng (kèm theo giấy chứng nhận bảo hiểm AN HƯNG PHÁT LỘC); Mua bảo hiểm cho cháu ngoại của vợ chồng là Trần Đăng k (con của Trần Thị Cẩm T1), số tiền mua bảo hiểm gốc là 40.000.000 đồng; Mua bộ ghế + Tủ thờ hiện trong nhà là 40.000.000 đồng; Mua Tủ lạnh + máy lạnh số tiền là 13.000.000 đồng; Mua chiếc nệm kim đan 7.000.000 đồng; Mua chiếc xuồng Campozic 2.500.000đồng và máy chạy nước đời mới là 2.500.000 đồng. Tổng cộng là 165.000.000 đồng. Nguồn tiền từ bán nhà 150.000.000 đồng, còn lại 15.000.000 đồng là do chị T1 gửi về cho bà N1 trả.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lý Hồ Huy c của chị T1 yêu cầu bà N1 và ông N trả diện tích đất 110m², thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 10 cùng một căn nhà cấp 4 trên đất, tọa lạc xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất 48m², thuộc thửa số 19, tờ bản đồ số 57 cùng một căn nhà gỗ bạch đàn trên đất, toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà thống nhất toàn bộ yêu cầu của anh H, bà N1 tự nguyện trả lại cho vợ chồng anh H và chị T1 nhà ở và đất nêu trên.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Trần Thị N1 trình bày:

Thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của bà N1. Phần nào các đương sự tự nguyện thoả thuận thì ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự. Riêng nhà và đất ở xã A, huyện T là mua năm 2018 do tiền của chị T1 gửi về nên đề nghị giữ y nhà và đất này cho bà N1 để bà N1 trả cho vợ chồng chị T1; Nhà và đất ở xã T, thành phố H, ông N cho rằng mua năm 2014-2015 là không đúng mà mua vào năm 2019, lúc này chị T1 gửi tiền về để mua tài sản này, có sự thừa nhận của ông N là chị T1 có gửi tiền về 172.000.000 đồng vì mức sống và thu nhập của gia đình thời điểm này không đủ để mua tài sản này. Do đó giữ y nhà và đất này cho bà N1 để bà N1 trả cho vợ chồng chị T1. Đối với 13 chỉ vàng 18kara 07 tuổi mà ông N đang đeo là có thật, vì trong quá trình giải quyết vụ án khi Toà án mời hoà giải thì bà N1 có giật sợi dây chuyền ông N đang đeo nên đề nghị chia đôi số vàng này cho bà N1 được hưởng là 6,5 chỉ vàng 18kara 07 tuổi. Bà N1 không có quản lý 40 chỉ vàng 18kara 07tuổi như ông N trình bày và yêu cầu. Số tiền 150.000.000 đồng có được do bán nền nhà cũ nhưng số tiền này bà N1 đã chi tiêu cho gia đình nên không còn, không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của ông N. Đối với ba hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng nào bà N1 đứng mua thì để y còn hợp đồng nào ông N đứng mua thì đề nghị chia đôi giá trị hoàn lại.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Cẩm T1 trình bày:

Năm 2014 - 2015, chị T1 có chồng ở Campuchia, có gửi tiền về xây nhà và mua diện tích đất 110m² cùng căn nhà cấp 4 gắn liền với đất, thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất 48m² cùng căn nhà gỗ lợp tole gắn liền với đất, thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 57, toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cho chị T1 về ở, chị T1 cho mẹ là bà N1 đứng tên giùm cho bà T1, nhưng chị T1 không yêu cầu gì đối với diện tích đất gắn liền với căn nhà trên đất nêu trên với bà N1 và ông N trong vụ án này. Tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của chị T1 trình bày: mặc dù chị T1 gửi tiền về để mua đất và nhà nhưng T1 không yêu cầu và tranh chấp gì với bà N1 và ông N trong vụ án này vì nghĩ tình nghĩa mẹ con với bà N1 và giữ trọn đạo lý làm người.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Văn C, người đại diện theo pháp luật cho anh C là ông Ngô Văn N trình bày:

Anh Ngô Văn C có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với ông N sau khi cha mẹ ly hôn. Anh C thống nhất toàn bộ theo lời trình bày của ông N, không yêu cầu và trình bày bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Đăng K, người đại diện theo pháp luật cho cháu K là chị Trần Thị Cẩm T1, chị T1 uỷ quyền cho ông Bùi Ngọc T2 trình bày:

Chị T1, cháu K thống nhất hủy hợp đồng bảo hiểm do ông Ngô Văn N đứng tên số 05702700046092 (người được bảo hiểm Trần Đăng K). Tổng phí đã nộp đến ngày 23/5/2023 là 37.562.402 đồng; Giá trị hoàn lại đến thời điểm 27/04/2023 là 17.633.734 đồng, chia đôi cho bà N1 và ông N được hưởng mỗi người là 8.816.867 đồng. Chị T1 và cháu K không có yêu cầu hay tranh chấp gì số tiền này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Dân G trình bày:

Anh G đang sống chung với ông N trong căn nhà đang tranh chấp giữa ông N và bà N1. Anh G thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông N, anh G không yêu cầu và tranh chấp trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị T3 trình bày:

Chị T3 là con ruột của ông N và bà N1, hiện chị T3 đang sống chung với ông N trong căn nhà đang tranh chấp giữa cha và mẹ chị T3. Chị T3 thống nhất theo lời trình bày và yêu cầu của ông N, chị T3 không yêu cầu và tranh chấp trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị T4 trình bày:

Chị T4 không có ý kiến gì đối với căn nhà đã bán giữa cha mẹ chị T4 là ông N và bà N1. Căn nhà mà cha mẹ đã bán được 150.000.000 đồng trước đây là căn nhà do cha mẹ tích góp, sửa chữa để ở cùng các con. Nay cha mẹ đã bán căn nhà, tích góp xây dựng nên căn nhà mới hiện nay, đây là tài sản của cha mẹ, cha mẹ quyết định sao thì quyết định, chị T4 không có yêu cầu và tranh chấp với ông N và bà N1 trong vụ án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lý Hồ H trình bày:

Anh H là chồng chị Trần Thị Cẩm T1. Anh H và chị T1 có gửi tiền về xây nhà và mua đất từ năm 2017-2020, gửi bằng hình thức chuyển tiền 12 lần số tiền 115.810.000 đồng và gửi tiền vào tài khoản của cháu ông N là Ngô Văn C2 7.500 USD (tiền Việt Nam là 172.870.000 đồng). Tổng cộng chuyển khoản 288.680.000 đồng cho mẹ vợ anh H và mang trực tiếp về xây nhà cho mẹ vợ anh H tổng cộng là 600.000.000 đồng. Mẹ vợ anh H cũng có làm giấy nhà và đất là tài riêng của mẹ vợ anh H, do anh H mang tiền về mua đất và xây nhà để mẹ vợ anh H ở và đã làm thủ tục sang tên của người bán đất cho mẹ vợ anh H và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị N1 đứng tên, số DG 674591 cấp ngày 17/6/2022, tại thửa số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², hình thức sử dụng riêng của mẹ vợ anh H, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn. Nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Năm 2018, anh H có mang tiền về nhờ mẹ vợ anh H mua cho anh H một nền nhà cho vợ chồng và con anh H là Trần Đăng k, sinh năm 2014 để ở, đất tọa lạc xã A, huyện T để phòng khi C3 không ở được thì vợ chồng anh H về Việt Nam có nhà để ở. Nền nhà này anh H nhờ mẹ đứng tên cho anh H để làm giấy, vì anh H đi làm ăn xa nên việc làm giấy khó khăn, vợ chồng anh H có nhờ mẹ vợ anh H đứng tên hợp đồng chuyển nhượng đất để làm giấy đất và mẹ vợ anh H là bà Trần Thị N1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số CP 867453, diện tích 48m², thửa số 19, tờ bản đồ số 57, tọa lạc cụm dân cư ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, hình thức sử dụng riêng của mẹ vợ anh H, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn. Nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Đ2 ở xã A. Ông N khởi kiện yêu cầu ly hôn và chia tài sản nói trên là không đúng vì nguồn gốc tài sản này là của anh H nhờ mẹ vợ anh H mua cho vợ chồng anh H ở. Ông N không có tiền mua đất và xây nhà nên không được chia tài sản nêu trên.

Anh H yêu cầu ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1 trả lại cho anh H diện tích đất 110m², thửa số 73, tờ bản đồ số 10 cùng một căn nhà cấp 4 trên đất, tọa lạc xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất 48m², thửa số 19, tờ bản đồ số 57 cùng một căn nhà gỗ bạch đàn trên đất, toạ lạc xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do bà N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty B1 gửi văn bản trình bày:

Thông tin chung Hợp đồng bảo hiểm số 08702700003207: Ông Ngô Văn N là bên mua bảo hiểm đồng thời là người được bảo hiểm cụ thể như sau: Sản phẩm chính An Hưng Phát L (B3 và trả tiền định kỳ), số tiền bảo hiểm gốc 60.000.000 đồng, thời hạn bảo hiểm 15 năm; Sản phẩm bổ trợ BV-NR13 (bảo hiểm tử vong và thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn), số tiền bảo hiểm 120.000.000 đồng; Sản phẩm bổ trợ BV-NR12 (bảo hiểm thương tật bộ phận vĩnh viễn do tại nạn), số tiền bảo hiểm 120.000.000 đồng; Ngày phát sinh hiệu lực: 14/6/2018; Ngày đáo hạn hợp đồng: 14/6/2033. Tổng phí đã đóng đến ngày 13/6/2023 là 80.773.668 đồng; Giá trị hoàn lại đến ngày 17/8/2023 là 53.704.576 đồng; Người thụ hưởng: Trần Thị N1; Tình trạng: Còn hiệu lực. Theo thông tin của tư vấn viên Nguyễn Văn T8, đối với các lần thu phí bảo hiểm, ông T8 thu bằng tiền mặt tại nhà khách hàng, bà Trần Thị N1 vợ của BMBH/NĐBH Ngô Văn N, là người trực tiếp đưa tiền khi đó có mặt cả ông N.

Thông tin Hợp đồng bảo hiểm số 05702700046092: Tên sản phẩm An Sinh G; Điều khoản bổ trợ: R, R, R; Bên mua bảo hiểm: Ngô Văn N; Người được bảo hiểm: Trần Đăng K; Người thụ hưởng: Không có; Ngày hiệu lực: 24/11/2015; Số tiền bảo hiểm của Hợp đồng chính là 40.000.000 đồng. Tổng phí đã nộp đến ngày 23/5/2023: 37.562.402 đồng; Tình trạng hợp đồng: Còn hiệu lực; Giá trị hoàn lại đến thời điểm 17/8/2023: 16.818.241 đồng; Người trực tiếp nộp phí, theo Bản tường trình của đại lý Nguyễn Văn N2 thì bà Trần Thị N1 là người nộp phí bảo hiểm bằng tiền mặt phí bảo hiểm tại nhà, có mặt hai vợ chồng khách hàng ông N và bà N1.

Thông tin Hợp đồng bảo hiểm số 05702700045736: Tên sản phẩm An Sinh G; Điều khoản bổ trợ: R, R, R; Bên mua bảo hiểm: Trần Thị N1; Người được bảo hiểm: Ngô Văn C; Người thụ hưởng: Không có; Ngày hiệu lực: 24/11/2015; Số tiền bảo hiểm của Hợp đồng chính là 40.000.000 đồng. Tổng phí đã nộp đến ngày 23/5/2023: 41.690.885 đồng; Tình trạng hợp đồng: Còn hiệu lực; Giá trị hoàn lại đến thời điểm 17/8/2023: 22.352.782 đồng; Người trực tiếp nộp phí theo Bản tường trình của đại lý Nguyễn Thị T9, bà Trần Thị N1 là người nộp.

Bên mua bảo hiểm có quyền thay đổi người thụ hưởng. Trường hợp các hợp đồng vẫn tiếp tục được thực hiện đến ngày đáo hạn thì quyền lợi bảo hiểm sẽ chi trả cho bên mua bảo hiểm. Trường hợp người mua bảo hiểm tử vong thì người thụ hưởng mới được hưởng quyền lợi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 9, Điều 55, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 26, điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông Ngô Văn N với bà Trần Thị N1.
  2. Về con chung: Ông Ngô Văn N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Ngô Văn C, sinh ngày 28/10/2006 (Hiện đang sống chung với ông N). Bà Trần Thị N1 không phải cấp dưỡng cho con do ông Ngô Văn N không yêu cầu.
  3. Ông Ngô Văn N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà Trần Thị N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

  4. Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn N, cụ thể như sau:
    1. Công nhận sự tự nguyện của ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1:

      Đối với các tài sản hiện ông Ngô Văn N đang quản lý, sử dụng có tổng giá trị là 11.000.000 đồng, gồm: 01 (Một) Chiếc xe wave Alpha biển số 60M9-1361, có giá trị là 2.000.000 đồng; 01 (Một) tủ búp phê bằng kính có giá trị 1.800.000 đồng; 01 (Một) tủ thờ bằng gỗ có giá trị là 4.000.000 đồng; 01 (Một) tủ lạnh có giá trị là 2.000.000 đồng; 01 (Một) tủ quần áo nhôm có giá trị là 1.200.000 đồng thì ông Ngô Văn N được tiếp tục quản lý, sử dụng.

      Đối với các tài sản hiện bà Trần Thị N1 đang quản lý, sử dụng có tổng giá trị là 22.500.000đồng, gồm: 01 (Một) chiếc xe wave Alpha biển số 66H1-31657, có giá trị là 9.000.000 đồng; 01 (Một) cái ti vi hiệu S có giá trị 3.000.000 đồng; 01 (Một) cái tủ kệ ti vi có giá trị là 100.000 đồng; 01 (Một) bộ bàn ghế gỗ có giá trị là 9.000.000 đồng; 01 (Một) máy giặt có giá trị là 1.400.000 đồng thì bà Trần Thị N1 được tiếp tục quản lý, sử dụng.

      Bà Trần Thị N1 tự nguyện thống nhất trả lại giá trị chênh lệnh cho ông Ngô Văn N là 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

    2. Buộc bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Ngô Văn N số tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng).
    3. Buộc ông Ngô Văn N có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị N1 05 (Năm) chỉ vàng 18kara 07 tuổi (Giá vàng 18kara 07 tuổi 4.000.000đ/chỉ).
    4. Giao cho bà Trần Thị N1 được tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với đất thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 57, diện tích 48m², đất toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Hiện nhà và đất do bà N1 đang quản lý, sử dụng). Buộc bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Ngô Văn N số tiền 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng).
    5. Giao cho ông Ngô Văn N và các thành viên đang sống chung với ông N (gồm: Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C) được tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà cấp 4 và phần đất thuộc thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², đất toạ lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, hiện do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Hiện nhà và đất do ông N quản lý, sử dụng ở cùng Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C).
    6. Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị N1 đối với thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², đất toạ lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để cấp lại cho Ngô Văn N và các thành viên đang sống chung với ông N (gồm: Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C).

      Các đương sự được quyền đến Cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

    7. Đối với Hợp đồng bảo hiểm số 05702700045736, bà Trần Thị N1 mua cho Ngô Văn C thì giao cho bà Trần Thị N1 tiếp tục thực hiện hợp đồng này cho đến khi đáo hạn hợp đồng (Giá trị hoàn lại của hợp đồng này tính đến ngày 17/8/2023 là 22.351.782 đồng).
    8. Đối với Hợp đồng bảo hiểm số 05702700046092, ông Ngô Văn N mua cho cháu Trần Đăng K thì giao cho ông Ngô Văn N tiếp tục thực hiện cho đến khi đáo hạn hợp đồng (Giá trị hoàn lại của hợp đồng này tính đến ngày 17/8/2023 là 16.818.782 đồng).
    9. Buộc bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Văn N3 giá trị chênh lệch là số tiền 2.766.500 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

    10. Đối với Hợp đồng bảo hiểm số 08702700003207, ông Ngô Văn N là bên mua bảo hiểm, đồng thời là người được bảo hiểm của Sản phẩm chính An Hưng Phát L (bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp và trả tiền định kỳ) thì giao cho ông Ngô văn N4 tiếp tục thực hiện hợp đồng này cho đến khi đáo hạn hợp đồng (Giá trị hoàn lại của hợp đồng này tính đến ngày 17/8/2023 là 53.704.576 đồng). Buộc ông Ngô Văn N có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị N1 số tiền 26.852.000 đồng (làm tròn, hai mươi sáu triệu tám trăm năm mươi hai nghìn đồng).
  5. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  6. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của anh Lý Hồ H. Buộc ông Ngô Văn N và các thành viên đang sống chung với ông N (gồm: Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C) có nghĩa vụ trả lại giá trị nhà và đất thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², toạ lạc tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp cho anh Lý Hồ H là 739.411.000 đồng (Bảy trăm ba mươi chín triệu bốn trăm mười một nghìn đồng).
  7. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp Cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Ngô Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 06602 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

    Buộc ông Ngô Văn N chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% phần tài sản được hưởng (tổng giá trị: 16.750.000 đồng + 75.000.000 đồng + 20.000.000 đồng (05 chỉ vàng 18k x 4.000.000 đồng/chỉ + 159.000.000 đồng + 46.438.000 đồng (bảo hiểm) = 317.188.000 đồng) là 15.859.400 đồng. Khấu trừ 20.122.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 06639 ngày 15/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Ông Ngô Văn N được nhận lại 4.262.600 đồng (Bốn triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm đồng).

    Buộc ông Ngô Văn N, Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% phần trả giá trị tài sản cho anh Lý Hồ H là 36.970.550 đồng (Ba mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng).

    Buộc bà Trần Thị N1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% phần tài sản được hưởng (tổng giá trị: 16.750.000 đồng + 75.000.000 đồng + 20.000.000 đồng (05 chỉ vàng 18k x 4.000.000 đồng/chỉ + 159.000.000 đồng + 46.438.000 đồng (bảo hiểm) = 317.188.000 đồng) là 15.859.400 đồng. Khấu trừ 1.788.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 06667 ngày 13/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Bà Trần Thị N1 còn phải nộp thêm 14.071.400 đồng (Mười bốn triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Lý Hồ H được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 01209 ngày 21/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí tố tụng là 4.730.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Khấu trừ tạm ứng 5.000.000 đồng, phần còn lại 270.000 đồng (Hai trăm bảy mươi nghìn đồng), ông Ngô Văn N được nhận lại và đã nhận lại xong. Yêu cầu của ông Ngô Văn N không được chấp nhận nhiều hơn nên ông N phải chịu chi phí tố tụng nhiều hơn bà N1 theo tỉ lệ ông N chịu 7 phần, bà N1 chịu 3 phần. Do đó, buộc ông Ngô Văn N phải chịu chi phí tố tụng là 3.311.000 đồng (Ba triệu ba trăm mười một nghìn đồng), bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn N 1.419.000 đồng (Một triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) tiền chi phí tố tụng vì ông Ngô Văn N đã tạm ứng trước và đã chi xong.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 14/9/2023, ông Ngô Văn N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết việc Tòa án cấp sơ thẩm phân chia tài sản chung cho anh Lý Hồ H căn nhà của ông N đang ở, chiều ngang 0,5m x dài 22m, diện tích 110m² tọa lạc tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp gắn liền với đất, đất do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N không đồng ý chia cho anh Lý Hồ H căn nhà gắn liền với đất vì đây là tài sản chung của vợ chồng ông N.

Ngày 20/9/2023, anh Lý Hồ H và chị Trần Thị Cẩm T1 kháng cáo yêu cầu buộc ông Ngô Văn N cùng các thành viên đang sống chung với ông N là chị Ngô Thị T3, anh Bùi Dân G và anh Ngô Văn C trả lại căn nhà cấp 4 và diện tích đất 110m², thửa số 73, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại xã T cho vợ chồng anh H được sử dụng; Anh Lý Hồ H và chị Trần Thị Cẩm T1 yêu cầu buộc ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả số tiền 100.000.000 đồng là tiền mà vợ anh H mang về mua đất ở xã A.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Ngô Văn N không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh Lý Hồ H và chị Trần Thị Cẩm T1. Khi ly hôn, ông N yêu cầu chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/6/2022 cùng căn nhà trên đất, ông N yêu cầu được chia bằng hiện vật và đồng ý thanh toán cho bà N1 ½ giá trị tài sản. Các con trai và con gái của ông N là chị T3, anh C và con rể của ông N là anh G không có liên quan đến quyền sử dụng đất thửa 73 cùng nhà ở trên đất hiện ông N và bà N1 đang tranh chấp chia tài sản, vì đây là tài sản chung của ông N và bà N1.

Anh Lý Hồ H không rút đơn khởi kiện, anh H và chị Trần Thị Cẩm T1 không rút kháng cáo, nhưng có thay đổi kháng cáo. Cụ thể: Anh H kháng cáo yêu cầu ông Ngô Văn N cùng các thành viên đang sống chung với ông N gồm chị T3, anh G và anh C trả lại cho vợ chồng anh H, chị T1 được quyền sử dụng, sở hữu thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², tại ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 17/6/2022 cùng căn nhà cấp 4 trên đất. Chị T1 kháng cáo yêu cầu ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả cho chị T1 100.000.000 đồng, là số tiền mà chị T1 mang về mua đất ở ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Anh H và chị T1 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông N.

Bà N1 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông N, bà N1 đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh H, đối với yêu cầu kháng cáo của chị T1 thì bà N1 tự nguyện hoàn trả cho chị T1 số tiền 50.000.000 đồng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử.

Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H, chị Trần Thị Cẩm T1 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ. Ông N cho rằng thửa đất số 73 và căn nhà trên đất là tài sản chung của vợ chồng; anh H cho rằng tài sản này là của chị T1 và anh H nhờ bà N1 mua dùm, chị T1 yêu cầu ông N và bà N1 trả 100.000.000 đồng là số tiền chị T1 gửi về mua đất ở xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Đối với căn nhà trên thửa đất số 19 hình thành từ việc bán nền trước đó, chị T1 chuyển tiền không có giấy tờ, ông N cũng không thừa nhận. Điều kiện kinh tế của ông N, bà N1 tạo ra thu nhập để nuôi con đã là khó khăn, ông N và bà N1 cũng không có thu nhập, việc ông N trình bày nguồn tiền mua đất thửa 73 do vợ chồng tích lũy là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, đánh giá nguồn gốc tài sản thửa 73 có xem xét đến điều kiện về chỗ ở cho ông N cùng các thành viên đang sống cùng ông N, ông N cùng các thành viên gia đình được quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản nên phải trả giá trị tài sản cho anh H, chị T1 là phù hợp nên kháng cáo của ông N, anh H không có cơ sở chấp nhận. Đối với kháng của chị T1 được bà N1 thừa nhận, mặc dù kháng cáo chị T1 chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết, nhưng mà bà N1 đồng ý trả 50.000.000 đồng cho chị T1, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện giữa chị T1 và bà N1, riêng ông N không đồng ý trả tiền cho chị T1, do cấp sơ thẩm chưa giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu này của chị T1.

Căn cứ vào Điều 300, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trần Thị Cẩm T1 và Trần Thị N1 tại phiên tòa phúc thẩm đối với số tiền 50.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H, chị Trần Thị Cẩm T1 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.

[2] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, các đương sự Ngô Thị T3, Ngô Văn C, Bùi dân Giang, chị Ngô Thị T4, người đại diện hợp pháp của Công ty B1 có đơn xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét kháng cáo của ông Ngô Văn N yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m², tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 17/6/2022 cùng căn nhà cấp 4 trên đất, yêu cầu được chia bằng hiện vật và đồng ý thanh toán cho bà Trần Thị N1 ½ giá trị tài sản, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[3.1] Ngày 17/6/2022, bà Trần Thị N1 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m² (đo đạc thực tế 100m²), mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, trên đất có xây dựng căn nhà cấp 4, hiện ông N đang quản lý, sử dụng. Sống chung với ông N tại căn nhà nêu trên còn có chị Ngô Thị T3, anh Ngô Văn C, anh Bùi Dân G là con gái, con trai và con rể của ông N và bà N1.

[3.2] Khi ly hôn, ông N yêu cầu chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa 73, cùng nhà ở gắn liền với đất, yêu cầu được chia bằng hiện vật và thanh toán cho bà N1 ½ giá trị đất và nhà ở. Bà Trần Thị N1 không đồng ý chia tài sản là quyền sử dụng đất thửa số 73 và nhà ở gắn liền với đất cho ông N vì quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là tài sản riêng của bà N1.

[3.3] Ông N và bà N1 đều trình bày trong thời kỳ hôn nhân có nhận chuyển nhượng đất của ông Trần Văn T10 (em trai bà N1), giá chuyển nhượng 130.000.000 đồng, sau đó có hoán đổi thửa đất đã mua của ông T10 với thửa đất số 73 của ông Trần Văn P1 (em trai của bà N1) xây dựng nhà ở trên đất nhưng các đương sự không thống nhất với nhau về thời gian, người thỏa thuận chuyển nhượng đất với ông T10. Ông N trình bày khoảng năm 2014 - 2015, vợ chồng ông N và bà N1 có nhận chuyển nhượng đất của ông T10, việc mua bán có làm giấy tay, vợ chồng ông N đã giao nhận đủ tiền cho ông T10 và ông T10 đã giao đất cho vợ chồng ông N sử dụng, năm 2019 vợ chồng ông N hoán đổi đất đã mua của ông T10 với đất ông P1 và xây dựng nhà ở trên đất, sau đó ông P1 đã làm thủ tục chuyển nhượng đất thửa 73 cho bà N1 và ngày 17/6/2022, bà N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 73 nêu trên. Bà N1 cho rằng thời gian nhận chuyển nhượng đất của ông T10 là vào tháng 02/2019, bà N1 là người thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất, kèm theo là bản gốc Tờ thỏa thuận mua bán nền nhà ngày 14/02/2019 giữa người bán là ông Trần Văn T10, bà Nguyễn Thị B và người mua là bà Trần Thị N1. Do ông T10 và ông P1 hoán đổi đất với nhau nên sau khi bà N1 nhận chuyển nhượng đất của ông T10 thì ông P1 và bà P2 đã giao nhận thửa đất số 73 và chuyển nhượng đất thửa số 73 cho N1. Thực tế ông N chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh thời gian thỏa thuận chuyển nhượng đất của ông T10 là vào năm 2014 - 2015 và người nhận chuyển nhượng đất là vợ chồng ông N, bà N1 nên lời trình bày của ông N không có cơ sở chấp nhận. Việc ông T10 xác nhận đã bán đất cho chị T1 chứ không bán cho vợ chồng bà N1 và ông N nhưng nội dung này không phù hợp với Tờ thỏa thuận mua bán nền nhà ngày 14/02/2019 nêu trên nên không có cơ sở xem xét.

[3.4] Về nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất, ông N trình bày do vợ chồng ông N tích lũy được, người giữ tiền và trả tiền nhận chuyển nhượng đất là bà N1, nhưng bà N1 cho rằng số tiền nhận chuyển nhượng đất là do con gái riêng của bà N1 là chị Trần Thị Cẩm T1 gửi về cho bà N1 mua đất, đồng thời chị T1 và người đại diện theo ủy quyền của chị T1 trình bày số tiền mua đất của ông T10 là của chị T1 gửi về cho bà N1. Tuy nhiên ông N chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của ông N là có căn cứ và hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N trình bày trước đây gia đình ông N có canh tác 04 - 05 công ruộng, ngoài ra ông N có nuôi lươn, thời gian rãnh thì ông N đi làm thuê mỗi ngày 300.000 đồng, bà N1 bán hàng rong thu nhập khoảng vài trăm ngàn một ngày, bà N1 tham gia hụi và tích góp dần nên mới có tiền mua đất của ông T10. Nhưng lời trình bày của ông N không được bà N1 thừa nhận, mà cho rằng trước đây hoàn cảnh gia đình bà N1 rất khó khăn, ông N không lo làm ăn, không đi làm thuê mà thường xuyên đi đánh bạc, bà N1 có bán hàng rong nhỏ lẻ nhưng đã nghỉ mua bán hơn 10 năm, gia đình có thuê của cha chồng bà N1 04 - 05 công ruộng canh tác, cha chồng chết thì ông N được chia phần đất đã thuê canh tác nhưng chỉ đủ sinh hoạt trong gia đình 05 người mà không có tiền dôi dư để tích lũy, đến năm 2014 - 2015 chị T1 có chồng, đến Campuchia làm việc và gửi tiền về cho bà N1 thì kinh tế gia đình bà N1 đã cải thiện, khi bà N1 mua đất của ông T10 thì chị T1 đã gửi tiền về cho bà N1 trả tiền mua đất. Người làm chứng Trần Thị M, Nguyễn Thị Cẩm D, Lê Thị H2, là những người dân sinh sống gần nhà ở của vợ chồng ông N, bà N1 đã khai hoàn cảnh gia đình ông N trước đây rất nghèo, chỉ là cái chồi, vợ chồng ông N chỉ làm thuê sinh sống, khi chị T1 có chồng ở Campuchia thì gia đình mới khá lên. Xét thấy ông N chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nguồn tiền nhận chuyển đất là do vợ chồng ông N tích lũy có được, trong khi đó lời khai của người làm chứng phù hợp với ý kiến của bà N1, chị T1 và phù hợp với điều kiện kinh tế của gia đình ông N tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất nên lời trình bày của ông N không có cơ sở để chấp nhận.

[3.5] Ông N trình bày, sau khi mua đất khoảng năm 2019 vợ chồng ông N có xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất với số tiền 500.000.000 đồng, trong đó chồng chị T1 là anh Lý Hồ H có cho vợ chồng ông N 400.000.000 đồng để xây nhà (bút lục số 475), số tiền còn lại do vợ chồng ông N tích lũy. Do chị T1 và anh H tặng cho vợ chồng ông N tiền cất nhà nên căn nhà cấp 4 xây dựng trên thửa 73 là tài sản chung của vợ chồng ông N, bà N1. Lời trình bày của ông N không được bà N1 thừa nhận, mà cho rằng vào khoảng tháng 8/2019 vợ chồng chị T1, anh H có gửi, mang về cho bà N1 500.000.000 đồng để bà N1 xây dựng nhà ở trên thửa 73, về tiền công xây dựng số tiền 102.000.000 đồng thì chồng chị T1 mang tiền về cho bà N1 trả; vợ chồng bà N1, ông N không có tiền tích lũy bởi nguồn thu nhập không đủ sinh hoạt trong gia đình; anh H không tặng cho vợ chồng bà N1, ông N 400.000.000 đồng để xây dựng nhà nên căn nhà cấp 4 đang tranh chấp là tài sản riêng của bà N1. Do ông N chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh anh H tặng cho vợ chồng ông N 400.000.000 đồng và việc vợ chồng ông N có tích lũy tiền để xây dựng nhà ở nên lời trình bày của ông N không có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N trình bày chị T1 và anh H chỉ cho vợ chồng ông N khoảng 175.000.000 đồng (7.500 USD) để xây nhà, số tiền xây dựng nhà còn lại là do vợ chồng ông N tích lũy từ việc ông N làm thuê và bà N1 bán hàng rong, mỗi ngày vợ chồng thu nhập khoảng 600-700 nghìn đồng, nhưng lời trình bày của ông N cũng không được bà N1, chị T1, anh H, người đại diện theo ủy quyền của chị T1 và anh H thừa nhận, ông N không trình bày được lý do thay đổi lời khai, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ và hợp pháp nên không có căn cứ để chấp nhận.

Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định năm 2014 quy định:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

...

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”.

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình quy định năm 2014 quy định:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng....”.

[3.6] Căn cứ vào quy định pháp luật nêu trên, mặc dù thửa đất số 73 và căn nhà cấp 4 trên đất hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông N và bà N1, nhưng nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất và xây dựng nhà ở là của chị T1 và anh H tặng cho bà N1, bà N1 sử dụng nguồn tiền này nhận chuyển nhượng đất thửa 73 của ông T10 thông qua hợp đồng chuyển nhượng đất được ký kết giữa vợ chồng ông P1 với bà N1, đến ngày 17/6/2022 bà N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã xây dựng nhà ở trên đất. Do thửa đất số 73 cùng nhà ở trên đất được hình thành từ nguồn tiền chị T1 tặng cho bà N1 nên thửa 73 cùng nhà ở trên đất không là tài sản chung của vợ chồng ông N, bà N1, mà là tài sản riêng của bà N1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 73 cùng nhà ở trên đất là tài sản của anh H là chưa phù hợp. Do là tài sản riêng của bà N1 nên việc ông N khởi kiện yêu cầu chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa 73, cùng nhà ở gắn liền với đất, yêu cầu được chia bằng hiện vật và thanh toán cho bà N1 ½ giá trị đất và nhà ở là không có căn cứ nên kháng cáo của ông N không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo của anh Lý Hồ H yêu cầu ông Ngô Văn N cùng các thành viên đang sống chung với ông N gồm chị Ngô Thị T3, anh Bùi Dân G và anh Ngô Văn C trả lại cho vợ chồng anh H, chị Trần Thị Cẩm T1 được quyền sử dụng, sở hữu thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m² cùng căn nhà cấp 4 trên đất, tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 17/6/2022.

[4.1] Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử sơ thẩm, anh Lý Hồ H yêu cầu ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1 trả lại cho anh H quyền sử dụng đất thửa số 73 và nhà ở gắn liền với đất. Bà N1 đồng ý trả lại quyền sử dụng đất thửa số 73 và nhà ở gắn liền với đất theo yêu cầu của anh H. Ông N không đồng ý trả thửa đất số 73 cùng nhà ở trên đất cho anh H vì đây là tài sản chung của vợ chồng ông N và bà N1.

[4.2] Xét thấy quyền sử dụng đất thửa số 73 và căn nhà cấp 4 trên đất là tài sản riêng của bà N1 như đã nhận định trên và việc bà N1 đồng ý trả lại quyền sử dụng đất thửa 73 cùng căn nhà trên đất theo yêu cầu của anh H là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Lý Hồ H và Trần Thị N1.

[4.3] Ngoài ra anh H còn yêu cầu ông N trả thửa đất số 73 và căn nhà cấp 4 trên đất. Xét hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống, từ năm 2019 đến khi vợ chồng ông N ly thân (tháng 5/2022) thì ông N và bà N1 đã quản lý, sử dụng đất và sinh sống tại căn nhà nêu trên. Sau khi vợ chồng ông N ly thân, bà N1 đến sinh sống ở căn nhà tại huyện T, đất và nhà ở tại thành phố H vẫn do ông N quản lý, sử dụng; hiện ông N không còn đất và nhà ở nào khác; anh H từ trước đến nay không có quản lý, sử dụng đất và nhà ở trên đất; những nội dung này cũng được bà N1 thống nhất. Khi ly hôn, bà N1 đã được chia tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất tại huyện T cũng đảm bảo điều kiện về nơi ở; anh H không thường xuyên sinh sống, làm việc ở Việt Nam nên nhu cầu về sử dụng đất, nhà ở đang tranh chấp chưa thật sự cần thiết như ông N hiện nay. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông N xác định thửa 73 cùng nhà ở trên đất là tài sản chung của ông N và bà N1, chị T3, anh C, anh G là con gái, con trai và con rể ông N chỉ sinh sống cùng ông N chứ không có quyền, nghĩa vụ gì đối với tài sản tranh chấp. Xét thấy chị T3, anh C, anh G chỉ sống cùng ông N, các đương sự không yêu cầu gì đối với tài sản này, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm quyết định giao cho ông N và các thành viên đang sống chung với ông N gồm Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C được tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà cấp 4 và thửa đất số 73 do bà Trần Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị N1 đối với thửa đất số 73 để cấp lại cho Ngô Văn N và các thành viên đang sống chung với ông N gồm Ngô Thị T3, Bùi Dân G, Ngô Văn C, trong khi chị T3, anh C, anh G không yêu cầu gì trong vụ án này là chưa phù hợp, đồng thời Tòa án không có thẩm quyền giao và thu hồi đất. Từ những căn cứ trên, xét thấy việc giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất và nhà ở trên đất cho ông N được quyền sử dụng và sở hữu, ông N có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất và nhà ở cho anh H số tiền 739.411.000 đồng là phù hợp.

[4.4] Anh H kháng cáo yêu cầu ông N, chị T3, anh C, anh G trả lại cho vợ chồng anh H, chị Trần Thị Cẩm T1 quyền sử dụng đất thửa 73 và nhà ở trên đất. Ông N không đồng ý trả lại tài sản đang tranh chấp cho anh H và chị T1. Xét kháng cáo của anh H do chưa phù hợp như đã nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Việc anh H kháng cáo yêu cầu người đang quản lý, sử dụng tài sản tranh chấp trả lại tài sản cho anh H và chị T1 là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên được Tòa án chấp nhận. Do ông N được quyền sử dụng đất thửa 73 và được quyền sở hữu nhà ở trên đất nên ông N phải thanh toán cho anh H và T1 giá trị tài sản số tiền 739.411.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm có điều chỉnh về cách tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[5] Xét kháng cáo của chị Trần Thị Cẩm T1 yêu cầu ông Ngô Văn N và bà Trần Thị N1 có nghĩa vụ trả số tiền 100.000.000 đồng tiền mà chị T1 mang về mua đất tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, giải quyết yêu cầu của chị T1 nên yêu cầu kháng cáo của chị T1 không được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm, bà N1 đồng ý hoàn trả cho chị T1 50.000.000 đồng. Xét thấy sự thỏa thuận của chị T1 và bà N1 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự T1 và N1 tại phiên tòa phúc thẩm.

[6] Về án phí:

Ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Ông Ngô Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 739.411.000 đồng theo quy định của pháp luật. Ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 33.576.000 đồng, tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm buộc ông N, chị T3, anh G, anh C liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% phần giá trị tài sản cho anh H là chưa phù hợp.

Bà Trần Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 50.000.000 đồng mà bà N1 tự nguyện hoàn trả cho chị T1 tại phiên tòa phúc thẩm.

Chị Trần Thị Cẩm T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trần Thị Cẩm T1 và Trần Thị N1 tại phiên tòa phúc thẩm đối với số tiền 50.000.000 đồng do một phần đề nghị phù hợp như đã nhận định trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

[8] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do chưa phù hợp như đã nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 300, 308, 309, 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Ngô Văn N, anh Lý Hồ H.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị Cẩm T1.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn N.
  2. Ông Ngô Văn N được quyền sử dụng đất thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m² (đo đạc thực tế 100m²), mục đích sử dụng: ONT, cùng căn nhà cấp 4 trên đất, tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 17/6/2022 (Hiện ông N đang quản lý, sử dụng).

    Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thu hồi quyền sử dụng đất thửa đất số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m² đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị N1 vào ngày 17/6/2022, để cấp lại quyền sử dụng đất cho Ngô Văn N.

    (kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/10/2022; sơ đồ đo đạc ngày 17/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H).

    Các đương sự Ngộ, N1 được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký cấp lại quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

  3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của anh Lý Hồ H.
  4. Buộc ông Ngô Văn N phải thanh toán cho anh Lý Hồ H và chị Trần Thị T1 giá trị quyền sử dụng đất thửa số 73, tờ bản đồ số 10, diện tích 110m² cùng căn nhà cấp 4 trên đất, tại xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị N1 ngày 17/6/2022 với số tiền 739.411.000 đồng (bảy trăm ba mươi chín triệu bốn trăm mười một nghìn đồng).

  5. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Trần Thị Cẩm T1 và Trần Thị N1.
  6. Bà Trần Thị N1 tự nguyện hoàn trả cho chị Trần Thị Cẩm T1 số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  7. Về án phí sơ thẩm:
  8. Ông Ngô Văn N phải chịu 33.576.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Lý Hồ H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho anh H tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 01209 ngày 21/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

    Bà Trần Thị N1 phải chịu 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  9. Về án phí phúc thẩm:
  10. Ông Ngô Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho ông N tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001234 ngày 14/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

    Anh Lý Hồ H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả cho anh H tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001244 ngày 22/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

    Chị Trần Thị Cẩm T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001243 ngày 22/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

  11. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  13. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND thành phố Hồng Ngự;
  • - CCTHADS thành phố Hồng Ngự;
  • - Phòng GĐKTNV-THA TAT;
  • - Lưu: VT, HS (Nghĩa)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” và “tranh chấp về quyền đòi lại tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger