Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN ND Q.SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16.5..2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

 

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủyông Nguyễn Văn Đời

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Trà - Thư ký Toà án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hương Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02.5.2024, quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HN ngày 08.01.2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Lê Đức M, sinh năm: 1991. Nơi cư trú: A T, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0906.575.xxx. Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Lê Đức M có luật sư Võ Văn Đ, Văn phòng L, địa chỉ: D L, quận H, ĐN. Có mặt

*Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng H, sinh năm 1991.Địa chỉ: số C B, thuộc tổ A, phường A, quận S, TP Đà Nẵng. SĐT: 0934.984.xxx. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn ông Lê Đức M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tôi kết hôn vào năm 2019, được Ủy ban nhân dân phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 01 ngày 02.01.2019.

Hôn nhân của chúng tôi hoàn toàn tự nguyện. Mục đích hôn nhân là để yêu thương, quan tâm, chăm sóc và cùng nhau chia sẽ những khó khăn trong cuộc sống, trên cơ sở hai bên tôn trọng lẫn nhau.

Sau kết hôn, vợ chồng tôi về sống chung tại địa chỉ: A N, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chung sống đến cuối tháng 12/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, xung đột ngày càng gay gắt, mặc dù tôi đã cố gắng duy trì cuộc sống vợ chồng và xây dựng gia đình, nuôi con, nhưng không thành.

Vợ của tôi có quan hệ ngoài hôn nhân với người có tên là “Hoang Uyen” tên thật là: Phạm Vũ Hoàng U, sinh năm: 1994, địa chỉ tại: H K N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng thể hiện qua các tin nhắn có tên “Hoang Uyen” đến số điện thoại của vợ tôi là bà Trần Thị Hồng H “Hachi Tran”, cụ thể: tin nhắn từ tài khoản H1 ngày 13.12.2023, lúc 9 giờ 54 phút 02 giây sáng: “E, nói ni nè, a thấy tần suất làm tình của a hơi nhiều, e có ổn không? Có thấy mệt chi không, để a điều chỉnh, vì thật ra a giảm bớt vẫn ok á e”; Vào ngày 03.12.2023, lúc 8 giờ 48 phút 56 giây chiều: “mà có cái nữa là a có thể làm tình liên tục mà sao a không mệt nhỉ.” ; Tin nhắn vào ngày 28.11.2023, lúc 2 giờ 19 phút 27 giây chiều: “E, mình làm tình nhiều ry ổn không.”; Tin nhắn vào lúc 8 giờ 46 phút 42 giây chiều ngày 22.11.2023: “Yo mum xong chưa tới a đi”. Đây là một trong số nhiều nội dung tin nhắn qua lại giữa tài khoản có tên “Hoang Uyen” và tài khoản vợ tội có tên “ Hachi Tran".

Vì vậy vợ chồng tôi đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay. Hiện tại, chúng tôi xác định không còn yêu thương nhau, lòng tin đổ vỡ, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa án cho tội xin được ly hôn với vợ tôi là bà Trần Thị Hồng H.

-Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chúng tôi có 01 con chung là cháu Lê Hải N, sinh ngày: 18.12.2019, hiện cháu đang ở với tôi cùng gia đình ba mẹ tôi, được yêu thương chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ.

Khi ly hôn tôi có nguyện vọng là được nuôi con, chị Hồng H không có chỗ ở ổn định và thu nhập bấp bênh, không yêu cầu chị Trần Thị Hồng H cấp dưỡng nuôi con. Tôi cho rằng với một người mẹ đã ngoại tình như vậy thì không thể nào là người mẹ chính chuyên nên không thể dạy con tốt được, nhất là với con gái. Khi ly hôn và tôi xin nuôi con, chị Trần Thị Hồng H có quyền đến chăm con theo quy định của pháp luật. Con tôi không thể giao cho ông ngoại chăm sóc.

-Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết

-Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung nên không yêu cầu tòa giải quyết

*Nguyên đơn ông Lê Đức M có ý kiến bổ sung: Đối với tài sản mà bà H trình bày tôi có ý kiến như sau: Vào năm 2017 khi đó tôi chưa kết hôn đang làm việc tại TP Hồ Chí Minh chưa có chổ ở nên gia đình tôi tạo điều kiện cho tôi mua 01 căn hộ tại TP Hồ Chí Minh, tôi có góp thêm với cha mẹ 1 ít tiền để mua chung cư này, sau khi cưới vợ vào năm 2019 chúng tôi có chung sống tại đây đến khi bố mẹ tôi cần tiền nên tôi đã bán căn hộ chung cư này, đây là tài sản riêng của tôi trước hôn nhân. Số tiền bán chung cư sau khi trả cho bố mẹ tôi còn một ít. Khi chúng tôi cưới nhau bà H chỉ làm công việc phổ thông, sau đó mang thai và ở nhà chăm sóc con, mọi chi phí trong gia đình một mình tôi đi làm và chịu trách nhiệm chi trả và để tạo dựng nơi cư trú nên chúng tôi đã mua 01 lô đất tại Đ như bà H trình bày, để mua được lô đất nay chúng tôi đã thế chấp chính lô đất đó tại Ngân hàng để vay số tiền 250.000.000 đồng cùng với tiền của tôi đã bán chung cư và tiền mượn bạn bè tôi cộng vào mới đủ mua đất. Sau đó do cuộc sống vợ chồng cần đầu tư để cho bà H làm ăn và trả nợ Ngân hàng nên chúng tôi đã thống nhất bán lô đất trên vào năm 2023 vi Trong thời gian chung sống do cô H không có công việc ổn định nên tiền bán đất đã lấy đầu tư cho bà H mở dịch vụ chăm sóc da và mua mỹ phẩm cũng như các trang thiết bị cần thiết cho việc mở dịch vụ này, sau khi vợ chồng có mâu thuẩn bà H đã không chịu làm tiếp và đã đem tất cả nhưng trang thiết bị mà tôi mua săm cũng với mỹ phẩm đi, còn nhà thuê thì yêu cầu tôi thanh toán với chủ thuê. Số tiền bán đất này chi tiêu như thế nào cả hai vợ chồng đều biết, bây giờ bà H lại yêu cầu chia như vậy là không đúng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu chia tiền lương của tôi trong thời gian chung sống tôi có ý kiến như sau: Tiền lương của tôi làm trong những năm chung sống chị H không có công việc làm ổn định, một mình tôi trang trải mọi sinh hoạt phí trong gia đình và tiền lương tôi đưa hoàn toàn cho vợ là chị H chi tiêu do vậy việc yêu cầu chia tài sản chung là tiền lương của cá nhân tôi hoàn toàn không có cơ sở

* Bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng bà Trần Thị Hồng H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông M kết hôn vào năm 2019. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, TP .

Sau khi kết hôn, tôi sống tại Đà Nẵng, còn ông M sống tại TP .. Qua thời gian chung sống được 5 năm, đến nay, sự quan tâm của ông M và mẹ con tôi không có ( vì ông M đi làm xa 1 năm chỉ về 1 đến 2 lần). Qua thời gian xa cách quá lâu, một mình tôi chăm sóc và nuôi con, thiếu thốn tình cảm vợ chồng và cha con.

Hai vợ chồng đã nhiều lần tâm sự và trao đổi với nhau ( về việc gần gũi và gia đình sum họp) nhưng không thành, gây ra vợ chồng ngày càng xích mích và mâu thuẫn. Cho đến ngày 01.01.2024, tôi và ông M đã bàn bạc thỏa thuận rồi đi đến thống nhất, bước đầu ly thân một thời gian để có hướng giải quyết. Hai bên ở riêng, và tôi đã thuê riêng 1 căn phòng cho hai mẹ con ở để ổn định. Tuy nhiên, vào ngày 30.01.2024 ( tức 20 âm lịch), ông M tự ý giành con về nuôi mà không cho tôi được cùng chăm sóc con. Sau đó gây ra 2 sự vụ quấy rối và xâm phạm nghiêm trọng của ông M vào ngày 6.02.2024 (tức 27 âm lịch) và ngày 9.02.2024 (tức 30 tết).

Nay về tình cảm tôi xác định không còn với ông M nữa nên đồng ý ly hôn với ông M

-Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Lê Hải N, sinh ngày 18.12.2019, Ly hôn tôi đồng ý giao con cho ông M nuôi dưỡng. Về tiền cấp dưỡng nuôi con, từ lúc kết hôn và sinh con, tôi ở nhà nội trợ, lo chăm sóc con nên không có việc làm, thu nhập ổn định nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng tạo lập được 01 lô đất tại thửa số 728, tờ bản đồ số 01, diện tích 127,84m², tại địa chỉ: G, phường Đ, thị xã Đ, Quảng Nam, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 402102 do sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 03.6.2019. Vào ngày 06.4.2023 tôi và ông minh đã chuyển nhượng lô đất trên cho ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1990 và bà Trương Thị T1, sinh năm 1993. Trú tại: phường A, quận S, TP Đà Nẵng. Hợp đồng chuyển nhượng được Công chứng tại Văn Phòng C, Đ, Quảng Nam. Giá mua tại Hợp đồng là 350.000.000 đồng, đây là giá thấp hơn giá thực tế hai bên thỏa thuận mua bán là 1.000.000.000 đồng để giảm chi phí làm thủ tục cho hai bên. Số tiền này ông M giữ và sử dụng, tôi hoàn toàn không biết.

Lô đất trên là tài sản chung của vợ chồng tạo lập sau kết hôn, số tiền mua đất hình thành từ việc bán chung cư tại TP Hồ Chí Minh và tiền vay để mua đất.

Ly hôn tôi đề nghị chia đôi giá trị bán lô đất là 1.000.000.000 đồng mỗi người được hưởng 500.000.000 đồng.

Đối với tiền lương của ông M từ khi kết hôn ngày 02.01.2019 đến nay tạm tính là 6 năm mỗi năm tiền lương của ông M là 394.250.000 đồng x 6 năm = 2.365.500.000 đồng chia đôi là 1.182.750.000 đồng

Tổng số tiền yêu cầu chia tài sản chung là 1.682.000.000 đồng

-Về Nợ chung: không có

Tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị Hồng H thay đổi yêu cầu: Về hôn nhân bà H đồng ý ly hôn với ông Lê Đức M. Về con chung bà H xin nuôi con chung và yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 9.000.000 đồng, về nợ chung: không có. Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Lê Đức M có luật sư Võ Văn Đ: Về hôn nhân và con chung tôi thống nhất toàn bộ ý kiến của nguyên đơn

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà:

- Về thủ tục tố tụng: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó việc thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

+Về hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân của ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H cuộc sống hôn nhân thực tế không còn tồn tại, vợ chồng không còn tin tưởng nhau nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lê Đức M, ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H.

+Về con chung: ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H xác nhận có 01 con chung là Lê Hải N, sinh ngày 18.12.2019. Hiện nay con chung đang được ông M nuôi dưỡng chăm sóc nên cần giao con chung Lê Hải N cho ông Lê Đức M nuôi dưỡng và bà Trần Thị Hồng H không cấp dưỡng nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: ông M khai nhận không có. Bà H rút yêu cầu chia tài sản chung nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác

+ Về nợ chung: ông Mbà H xác định không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Ngọc giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn, bị đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức M thì thấy:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H kết hôn vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận S, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Theo ông M trình bày: Nguyên nhân chính dẫn đến việc ly hôn là bà H có quan hệ ngoài hôn nhân với người khác từ đó vợ chồng không còn yêu thương nhau, lòng tin bị đổ vỡ, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, ông Mbà H đã ly thân không sống chung từ tháng 01/2024. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết cho ông M được ly hôn với bà H.

Bị đơn bà H cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẩn là bất đồng quan điểm, thiếu sự quan tâm lẫn nhau, thiếu thốn tình cảm. Nay ông M xin ly hôn xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H đồng ý ly hôn với ông M

Theo đơn xác nhận tại UBND phường A, quận S, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa ông Mbà H mâu thuẩn như thế nào địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay ông Mbà H đã không còn sống chung, ông M và con chung đang sống với ông M và bố mẹ ông M. Xét thấy, hiện nay ông Mbà H đã sống ly thân, mỗi người một nơi, bà H thống nhất ly hôn. Xét thấy, ông Mbà H đã thật sự tự nguyện ly hôn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 55 Luật HNGĐ công nhận sự thuận tình ly hôn của ông Mbà H.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H xác nhận có 01 con chung là Lê Hải N, sinh ngày: 18.12.2019. Ly hôn ông M có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Trong toàn bộ quá trình giải quyết bà H cũng thống nhất giao con chung cho ông M nuôi dưỡng vì hiện nay bà H không có công việc, thu nhập không ổn định nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa hôm nay bà H thay đổi ý kiến bà H xin nuôi con chung và yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 7.000.000 đồng.

HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy con chung hiện đang được ông M nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo về thể chất cũng như tinh thần nên tiếp tục giao con chung cho ông M nuôi dưỡng chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật HNGĐ năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay ông M không yêu cầu bà H cấp dưỡng tiền nuôi con nên không xét.

[2.3].Về tài sản chung: ông M khai nhận không có nên không xém xét.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 11.4.2024 bà H có đơn yêu cầu giải quyết chia tài sản chung bao gồm: Tiền bán lô đất tại G, phường Đ, thị xã Đ, Quảng Nam với giá trị thực tế là 1.000.000.000 đồng và tiền lương của ông M trong 6 năm chung sống là 2.365.500.000 đồng. Bà H yêu cầu chia đôi số tài sản nêu trên. Tổng số tiền yêu cầu chia tài sản chung là 1.682.000.000 đồng.

Sau khi xem xét đơn yêu cầu chia tài sản chung của bà H, Tòa án đã ra “Thông báo tạm ứng án phí” bà H đã nhận Thông báo ngày 11.4.2024 nhưng đến ngày Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 02.5.2024 bà H vẫn không nộp tiền tạm ứng án phí nên không có cơ sở xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay bà H không yêu cầu về tài sản chung nên HĐXX không xét.

Nếu sau này có tranh chấp về vấn đề tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[2.3].Về nợ chung: ông Lê Đức Mbà Trần Thị Hồng H khai nhận không có nên không xét.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng ông Lê Đức M phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 55,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Lê Đức M đối với bà Trần Thị Hồng H.

    Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Lê Đức M, sinh năm 1991 và bà Trần Thị Hồng H, sinh năm 1991.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 01 của UBND phường N, quận S, TP Đà Nẵng cấp ngày 02.01.2019 không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Tuyên xử. Giao con chung Lê Hải N, sinh ngày 18.12.2019 cho ông Lê Đức M trực tiếp, nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành.

    Ông Lê Đức M không yêu cầu bà Trần Thị Hồng H cấp dưỡng tiền nuôi con.

    Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét
  4. Về nợ chung: Không có nên xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng ông Lê Đức M phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001840. ngày 27.02.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng. Như vậy, ông M đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Riêng những người vắng mặt vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện Kiểm sát Sơn Trà;
  • - Chi cục Thi hành án Sơn Trà;
  • - UBND p. Nại Hiên Đông Thọ Quang
  • q. Sơn Trà, TPĐN;
  • - Sở Tư pháp
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Lê Đức M xin ly hôn với bà Trần Thị Hồng H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger