Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 4 năm 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ánh Hằng; ông Lê Thanh Hảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 311/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30B/2024/QĐST-DS ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Quách Như Ý, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, An Giang, có mặt.

Bị đơn: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1990; địa chỉ: số A, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Quách Như Ý trình bày:

Ông Ý và bà N tự tìm hiểu, quen biết và sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 182, quyển số 01/2010 ngày 09/8/2010. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, đến năm 2019, vợ chồng đã ly thân, bà N đã bỏ đi, không còn muốn chung sống cùng ông Ý. Do đó, nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống nên ông Ý khởi kiện yêu cầu ly hôn bà N.

Về con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007, hiện do bà N đang nuôi dưỡng và con chung Quách Thành Đ, sinh ngày 16/10/2017 hiện do ông Ý nuôi dưỡng. Ông Ý có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Thành Đ và đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi con chung tên Nhựt T đến tuổi trưởng thành, không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Ý khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng, cứ hòa giải về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung giữa các đương sự nhưng bà N nhiều lần không tham dự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh thể hiện mối quan hệ hôn nhân giữa ông Quách Như Ý và bà Lê Thị Kim N không còn chung sống cùng nhau, hiện bà Lê Thị Kim N vẫn còn đăng ký thường trú tại địa phương, hiện đi làm thuê.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa

Về hôn nhân của ông Ý với bà N là do mai mối và có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của ông Ý thể hiện, trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Ý với bà N phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, bà N nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy, việc ông Ý trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm lẫn nhau là có căn cứ. Nên, chấp nhận yêu cầu của ông Ý được ly hôn với bà N.

Qúa trình chung sống, cả hai có 02 con chung tên Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007 hiện do bà N đang nuôi dưỡng và con chung Quách Thành Đ sinh ngày 16/10/2017 hiện do ông Ý nuôi dưỡng. Ông Ý có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Thành Đ và đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi con chung tên Nhựt T đến tuổi trưởng thành. Do đó, để ổn định nơi ở, tạo điều kiện phát triển cho con về mọi mặt thì cho ông Ý được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Quách Thành Đ sinh ngày 16/10/2017 và bà N được tiếp tục nuôi dạy con chung Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007 là phù hợp quy định pháp luật; đôi bên không phải cấp dưỡng qua lại nuôi dạy con chung.

Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Quách Như Ý được ly hôn với bà Lê Thị Kim N; ông Ý được nuôi con chung tên Quách Thành Đ sinh ngày 16/10/2017 và bà N nuôi con chung tên Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007; ông Ý, bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng

[1] Nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn cư trú thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung

[3] Ông Quách Như Ý và bà Lê Thị Kim N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Xét nguyên nhân mâu thuẫn mà ông Ý trình bày, bà N không có ý kiến gì về việc ly hôn, nhiều lần Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do, cho thấy không có thiện chí hàn gắn, níu kéo lại tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc cả hai mạnh ai nấy sống. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, ông Ý cương quyết ly hôn. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ý như đề nghị của Kiểm sát viên.

[4] Về con chung, vợ chồng ông Ý, bà N có 02 con chung tên Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007 và Quách Thành Đ, sinh ngày 16/10/2017.

Xét cháu Đ đang sống cùng ông Ý, cháu T đang sống cùng bà N. Vì vậy, cần tạo điều kiện phát triển cho các con ổn định về mọi mặt, cần chấp nhận yêu cầu của ông Ý được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Quách Thành Đ và bà N được tiếp tục nuôi dạy con chung Quách Lê Nhựt T cho đến khi trường thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, điều này là phù hợp quy định pháp luật; mỗi người nuôi dạy một cháu, không phải cấp dưỡng nuôi con chung lẫn nhau.

Trong quá trình chăm sóc, nuôi dạy các con, ông Ý và bà N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung lẫn nhau. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Ý không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[6] Về án phí: Ông Ý phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003532 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, ông Ý đã nộp đủ án phí. Bà N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 147, Điều 227, Điều 228, và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Như Ý.

[1] Về quan hệ hôn nhân, ông Quách Như Ý được ly hôn với bà Lê Thị Kim N.

[2] Về con chung, ông Quách Như Ý được tiếp tục nuôi dạy con chung Quách Thành Đ, sinh ngày 16/10/2017; bà Lê Thị Kim N được tiếp tục nuôi dạy con chung Quách Lê Nhựt T, sinh ngày 11/5/2007 cho đến khi trường thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Quách Như Ý và bà Lê Thị Kim N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Các đương sự cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung lẫn nhau. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về án phí hôn nhân sơ thẩm

Ông Quách Như Ý phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003532 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; ông Ý đã nộp đủ án phí. Bà N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

[4] Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ông Quách Như Ý có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bà Lê Thị Kim N là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Ý và bà N tự tìm hiểu, quen biết và sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 182, quyển số 01/2010 ngày 09/8/2010. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, đến năm 2019, vợ chồng đã ly thân, bà N đã bỏ đi, không còn muốn chung sống cùng ông Ý. Do đó, nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống nên ông Ý khởi kiện yêu cầu ly hôn bà N. Về con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Quách Lê Nhựt T sinh ngày 11/5/2007, hiện do bà N đang nuôi dưỡng và con chung Quách Thành Đ, sinh ngày 16/10/2017 hiện do ông Ý nuôi dưỡng. Ông Ý có yêu cầu tiếp tục nuôi con chung tên Thành Đ và đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi con chung tên Nhựt T đến tuổi trưởng thành, không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Ý khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger