|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH T |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-4-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thiệu; Bà Nguyễn Thị Vân Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hà Giang- Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Liên Sơn- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2023/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị B T M, sinh năm 2000
Địa chỉ: thôn Châu Sơn, xã B, huyện T, tỉnh H
- Bị đơn: Anh T P T, sinh năm 1991
Địa chỉ: khu Đồng Dứa, xã H, huyện L, tỉnh T
(Chị M vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về quan hệ hôn nhân:
+ Tại đơn khởi kiện ngày 01/11/2023 và bản tự khai ngày 02/11/2023 nguyên đơn là chị B T M trình bày: Chị và anh T P T có đăng ký kết hôn, ngày 29/3/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Nga Hoàng, huyện L, tỉnh T. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau. Vợ chồng đã tự hàn gắn mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2022 đến nay. Nay chị M xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T P T.
+ Tại bản tự khai ngày 29/02/2024 bị đơn là anh T P T trình bày: Anh và chị B T M, tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29/3/2018, tại Ủy ban nhân dân xã Nga Hoàng, huyện L, tỉnh T. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, năm 2020 vợ chồng cãi, chửi nhau và đã sống ly thân từ tháng 8/2022 không quan tâm đến nhau. Nay chị M xin ly hôn, anh T cũng nhất trí.
- Về con chung: Hai bên đều trình bày, vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Thị Kim Ngân, sinh ngày 16/4/2018, hiện nay đang ở với anh T.
Quá trình giải quyết, anh T có ý kiến: xin được nuôi con chung là Trịnh Thị Kim Ngân, tự nguyện không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết, chị M có ý kiến để con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Hai bên đều không đề nghị Tòa án giải quyết.
Để có căn cứ giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của chị M và anh T. Đại diện UBND xã Nga Hoàng đã xác nhận: Trong cuộc sống hôn nhân giữa chị M, anh T, có mâu thuẫn bất đồng, không thể hàn gắn được. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện, chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị B T M có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải quan hệ hôn nhân giữa chị và anh T và có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 70 và khoản 1, 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh T P T đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quy định tại khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T và chị M theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 55; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị B T M và anh T P T.
-
[2]. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc nuôi con chung cụ thể như sau: Anh T P T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trịnh Thị Kim Ngân, sinh ngày 16/4/2018, kể từ tháng 4/2024 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh T tự nguyện không yêu cầu.
Chị M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- [3]. Về án phí: Chị B T M và anh T P T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, lời khai của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về tố tụng dân sự: Tranh chấp giữa chị B T M và anh T P T là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Bị đơn là anh T có nơi cư trú tại xã Nga Hoàng, huyện L, tỉnh T. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh T là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[2]. Về ý kiến và yêu cầu của đương sự:
-
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị B T M và anh T P T đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp.
Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương cho thấy: Sau khi kết hôn, chi M, anh T, chung sống tại xã Nga Hoàng, huyện L, tỉnh T, thời gian đầu thì hòa thuận, hạnh phúc, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng cãi, chửi nhau. Hiện nay chị M đã về nhà bố mẹ đẻ của chị ở huyện T, tỉnh H sinh sống, còn anh T vẫn sinh sống tại xã Nga Hoàng, huyện L, tỉnh T. Nay chị M xin ly hôn anh T, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa chị M và anh T có xảy ra mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người một nơi. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị M xin ly hôn và anh T nhất trí là phù hợp với thực trạng chung sống của vợ chồng nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của chị M và anh T.
-
[2.2]. Về con chung: Quá trình giải quyết, chị M có ý kiến để con chung là cháu Trịnh Thị Kim Ngân cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, anh T đồng ý. Xét thấy các đương sự thống nhất được với nhau về việc nuôi con chung nên cần công nhận sự thoả thuận.
Do anh T tự nguyện không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung nên chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
- [2.3]. Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung về tài sản và công sức: Quá trình giải quyết chị M, anh T đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị B T M và anh T P T đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp.
- [3]. Về án phí: Chị M, anh T, phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự .
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
- [1]. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị B T M và anh T P T.
-
[2]. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc nuôi con chung cụ thể như sau: Anh T P T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trịnh Thị Kim Ngân, sinh ngày 16/4/2018, kể từ tháng 4/2024 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh T tự nguyện không yêu cầu.
Chị M được quyên thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
-
[3]. Về án phí: Chị B T M phải chịu 75.000₫ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc tranh chấp hôn nhân gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa số 0006271 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh T. Trả lại cho chị B T M 225.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí.
Anh T P T, phải chịu 75.000₫ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc tranh chấp hôn nhân gia đình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được giao, nhận hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Thảo |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH T về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH T
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án tranh chấp HNGĐ giữa: Nguyên đơn: Chị B T M, sinh năm 2000 Địa chỉ: thôn S, xã B, huyện T, tỉnh H - Bị đơn: Anh T P T, sinh năm 1991 Địa chỉ: khu D, xã H, huyện L, tỉnhT (Chị M vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do).
