|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 16-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Văn Tòng.
- Bà Trần Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
PHẠM VĂN P, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1990 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn X, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N (đã chết); anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ ba; vợ: Triệu Thị T, sinh năm 1993; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPHC ngày 14/10/2009 của Công an huyện C, phạt tiền 150.000 đồng đối với Phạm Văn P về hành vi trộm cắp vặt.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 65/QĐ-XPHC ngày 30/8/2011 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Phạm Văn P về hành vi đánh bạc trái phép.
- + Bản án số 62/2014/HSST ngày 25/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt Phạm Văn P 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/QĐ-XPHC ngày 27/6/2019 của Công an huyện C, phạt tiền 750.000 đồng đối với Phạm Văn P về hành vi đánh nhau.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ-XPHC ngày 27/8/2019 của Công an huyện C, phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Phạm Văn P về hành vi đánh bạc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
-
HÀ VĂN H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/02/1991 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Hà Văn B (đã chết) và bà Hà Thị H, sinh năm 1967; anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ ba; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/10/2023, Phạm Văn P, trú tại thôn T, xã P, huyện C đi xe ô tô khách đến thành phố B, tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Đến nơi, P mua được 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy màu trắng có chữ, bên trong là Heroine ở dạng bột vón cục màu trắng của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, P đi xe ô tô khách về nhà. Trong khoảng thời gian từ ngày 07/10/2023 đến ngày 10/10/2023, mỗi ngày P lấy gói Heroine nêu trên san một ít ra sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể; số Heroine còn lại P đã bán cho Hà Văn H, trú tại thôn T, xã X, huyện C, cụ thể như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 10/10/2023, P đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ số thuê bao 0345079717 của H gọi đến, H hỏi P “Có gì không để cho tôi con năm trăm nhé” (Ý H hỏi mua 500.000 đồng Heroine), P trả lời “Có sang đi” và hẹn gặp H ở khu vực nghĩa trang cách nhà P khoảng 200m. Sau đó, H mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 22F1 - 405.84 của anh Hà Doãn L trú cùng thôn đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, H thấy P điều khiển xe đạp điện đi đến (xe của Phạm Thị H4 trú cùng thôn) H đưa cho P 480.000 đồng, P cầm tiền và đưa cho H 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy màu trắng có chữ, bên trong là Heroine ở dạng chất bột vón cục màu trắng. Mua được Heroine, trên đường về, H lấy gói Heroine ra sử dụng hết một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể, số Heroine còn lại H cất giấu trong túi quần và đi về nhà.
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 11/10/2023 H mang theo gói Heroine đi đến khu vực thôn L, xã X thì gặp Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C. Nghi ngờ H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ công tác đã yêu cầu H đến trụ sở UBND xã X để làm việc. Quá trình làm việc, H đã tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên cho tổ công tác và khai nhận số Heroine là H mua của Phạm Văn P mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 11, 12/10/2023, tại Công an huyện C đối với Phạm Văn P và Hà Văn H, kết quả: (+) dương tính với chất ma túy.
Kết luận giám định số 1351/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột vón cục màu trắng thu giữ của Hà Văn H gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,147g (Không phẩy một bốn bảy gam).
Cáo trạng số 14/CT-VKSCH ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Phạm Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Truy tố Hà Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn P từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2023.
Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Phạm Văn P từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2023.
Bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký của Hà Văn H và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Hà Văn H, giám định ngày 11/10/2023.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh của Hà Văn H kèm theo số thuê bao 0345079717 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kèm theo số thuê bao 0368206971 của Phạm Văn P.
Truy thu của bị cáo Phạm Văn P số tiền 480.000 đồng có được do bán ma túy cho Hà Văn H.
Về vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn P và Hà Văn H, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.
Đối với người đàn ông theo P khai đã bán trái phép Heroine cho Phạm Văn P, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô mà Hà Văn H sử dụng làm phương tiện đi mua Heroine là tài sản của Hà Doãn L (bạn của H), chiếc xe đạp điện mà Phạm Văn P sử dụng làm phương tiện đi bán Heroine cho Hà Văn H là tài sản của chị Phạm Thị H4 (chị gái ruột của P). Anh L1, chị H4 không biết H và P sử dụng làm phương tiện đi mua, bán Heroine, do vậy không đề cập xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo Phạm Văn P xác định đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo H xác nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận:
- - Khoảng 20 giờ ngày 10/10/2023 tại khu vực gần nghĩa trang thôn T, xã P, huyện C, Phạm Văn P đã có hành vi bán trái phép cho Hà Văn H 01 gói Heroine với giá 480.000 đồng.
- - Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 11/10/2023 tại thôn L, xã X, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Hà Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,147g (Không phẩy một bốn bảy gam) chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo Phạm Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Hà Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo P và H là người có đầy đủ năng lực nhận thức, các bị cáo nhận thức được việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc gia đình còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Phạm Văn P và bị cáo Hà Văn H được thực hiện độc lập, không liên quan đến nhau. Bị cáo Phạm Văn P có nhân thân xấu năm 2019 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp, năm 2011 bị Ủy ban nhân dân xã P, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; năm 2019 P bị Công an huyện C 02 lần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau và hành vi đánh bạc.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử thấy rằng nội dung buộc tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai. Do vậy căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo hình phạt tù và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt các bị cáo Phạm Văn P và Hà Văn H mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phạm Văn P bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, do vậy căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự phạt tiền bổ sung đối với bị cáo P trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với bị cáo Hà Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo H.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký của Hà Văn H2 và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Hà Văn H, giám định ngày 11/10/2023.
Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại có số thuê bao gồm số 0345079717 của Hà Văn H và số 0368206971 của Phạm Văn P.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh của Hà Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của Phạm Văn P là công cụ do các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của bị cáo Phạm Văn P số tiền 480.000 đồng có được do bán ma túy cho Hà Văn H.
[7] Vấn đề khác:
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn P và Hà Văn H, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.
Đối với người đàn ông theo P khai đã bán trái phép Heroine cho Phạm Văn P, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô mà Hà Văn H sử dụng làm phương tiện đi mua Heroine là tài sản của Hà Doãn L (bạn của H), chiếc xe đạp điện mà Phạm Văn P sử dụng làm phương tiện đi bán Heroine cho Hà Văn H là tài sản của chị Phạm Thị H4 (chị gái ruột của P). Anh L1, chị H4 không biết H và P sử dụng làm phương tiện đi mua, bán Heroine, do vậy không đề cập xử lý.
[8] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
- Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn P 02 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2023.
Phạt tiền đối với bị cáo Phạm Văn P là 5.000.000 đồng.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H 01 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11/10/2023.
-
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký của Hà Văn H2 và 05 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Hà Văn H, giám định ngày 11/10/2023.
Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại có số thuê bao gồm số 0345079717 của Hà Văn H và số 0368206971 của Phạm Văn P.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh của Hà Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của Phạm Văn P.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 15 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.
Truy thu của bị cáo Phạm Văn P số tiền 480.000 đồng có được do bán ma túy cho Hà Văn H.
-
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí án. Bị cáo Phạm Văn P và Hà Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt tại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Huệ |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 17 Phạm Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Hà Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
