|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 15-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Kim Quy và ông Phạm Thế Chiến.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/HSST-QĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị A; sinh ngày 05/5/1969 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số B hẻm Đ, tổ dân phố D, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ T (đã chết) và bà Phan Thị H; bị cáo chung sống như vợ chồng với ông Trần Xuân H1, sinh năm 1963; bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến 07/02/2024, được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Y Thiếu B, bà H' Nưm Hwing.
- Ông Y Yip Ê, bà H Yil K.
- Ông Y Gôn E, bà H Kmay H3.
- Cùng trú tại: Buôn C, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Lê Thị Bích L.
- Lê Thị Kim Y.
Cùng trú tại: Buôn Ê, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
( Tất cả đều vắng mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thị A: Ông Phạm Văn N – Luật sư của Văn phòng L1, thuộc đoàn luật sự tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thị A, trú tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình sinh sống tại huyện K, A nhận thấy có nhiều người dân là đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống tại xã B, huyện K, có nhu cầu vay tiền để làm vốn đầu tư chăm sóc cây nông nghiệp, nên Đỗ Thị A đã nảy sinh ý định cho các hộ dân là người đồng bào dân tộc thiểu số vay tiền với lãi suất cao để thu lợi. Để thuận tiện cho việc vay mượn tiền, Anh đã liên hệ với dịch vụ in ấn để in “Mẫu giấy mượn tiền”, có hai liên, khi viết thông tin lên giấy gốc thì nội dung sẽ tự sao sang liên hai ở dưới giấy gốc. Khi có người hỏi vay tiền thì Anh sẽ hướng dẫn người vay điền các thông tin vào “Mẫu giấy mượn tiền”, sau khi kiểm tra lại nội dung mà người vay viết đúng thông tin thì Anh sẽ giao tiền cho người vay và giao kèm theo giấy mượn tiền được sao ra từ giấy gốc để họ cất giữ. Khi có người trả được các khoản nợ (gồm khoản tiền gốc và lãi) thì A giao lại Giấy mượn tiền, bản gốc mà Anh giữ cho người vay. Để quản lý số người vay tiền, Anh đều ghi ký hiệu riêng cho “Mẫu Giấy mượn tiền”, mỗi một lần có người vay tiền thì Anh sẽ đánh số theo số thứ tự ở góc trên bên phải của Giấy mượn tiền để theo dõi. Về lãi suất do Đỗ Thị A với người vay tiền thỏa thuận với nhau.
Năm 2021 và 2022, Đỗ Thị A đã cho nhiều hộ dân sinh sống tại buôn C, xã B, huyện K vay tiền, trong đó có 03 hộ gia đình vay tiền với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất cho phép theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự (tối đa 20%/năm) và thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
Ngày 18/7/2022, Y Thiếu B và H Nưm Hwing đến nhà gặp Đỗ Thị A. Tại đây, hai bên thống nhất lại và chốt các khoản tiền vay bao gồm: gốc và lãi thành 100.000.000 đồng, đây là khoản tiền ông Y Thiếu B và bà H Nưm Hwing nhận trả thay cho Y R Bkrông vay từ năm 2012 với số tiền 20.000.000 đồng; tiền lãi suất phát sinh từ năm 2017 đến trước ngày 18/7/2022 là 159.000.000 đồng, thành tổng số tiền vay mới là 259.000.000 đồng. Khi đó, Y Thiếu B thỏa thuận với Đỗ Thị A tiếp tục vay mượn số tiền 259.000.000 đồng với lãi suất là 20%/01 tháng và trong thời hạn 06 tháng thì A đồng ý. Sau đó, Y Thiếu B ký giấy tờ vay mượn số tiền 259.000.000 đồng trong thời hạn 6 tháng với mức lãi suất là 20%/01 tháng, tương ứng với mức lãi suất 243,3%/năm. Tổng số tiền lãi là 310.800.000 đồng trong khi đó, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước cho số tiền vay trên là 25.951.800 đồng nên Đỗ Thị A nhằm thu lợi bất chính số tiền 284.900.000 đồng. Toàn bộ số tiền gốc và số tiền lãi Y T1 chưa thanh toán được cho Đỗ Thị A.
Ngày 01/12/2022, Y Yip Ê và H Yil Knul gặp Đỗ Thị A để tính tiền lãi suất phát sinh trong số tiền vay 20.000.000 đồng từ tháng 11/2022. Tại đây, Y Yip Ê và H Yil Knul với Đỗ Thị A đã thống nhất tổng số tiền gốc và lãi phát sinh là 50.000.000 đồng. Lúc này, Y Yip Ê và H Yil K đồng ý ký giấy tờ vay với tổng số tiền 56.500.000 đồng, trong thời hạn 05 tháng, với lãi suất hai bên thỏa thuận là 25%/01 tháng, tương ứng với mức lãi suất 304,2%/năm. Tổng số tiền lãi là 70.625.000 đồng trong khi đó, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước cho số tiền vay trên là 4.717.750 đồng nên Đỗ Thị A nhằm thu lợi bất chính số tiền 65.907.250 đồng. Toàn bộ số tiền gốc và số tiền lãi Y Yip Ê và H Yil Knul chưa thanh toán cho Đỗ Thị A.
Ngày 10/12/2021, Y Gôn Ê1 và H Kmay Hđruễ đến gặp Đỗ Thị A để tính lãi khoản tiền vay 70.000.000 đồng từ năm 2017. Tại đây, Y Gôn Ê1 và H Kmay H3 nhận trả thay cho ông Y Jôn N1, vay từ năm 2012 với số tiền 25.000.000 đồng; tiền lãi suất phát sinh từ năm 2017 đến trước ngày 10/12/2021 với tổng số tiền là 109.000.000 đồng, thành tổng số tiền vay mới là 179.000.000 đồng. Sau đó, Y Gôn Ê1 và H Kmay Hđruễ thỏa thuận với Đỗ Thị A tiếp tục vay mượn số tiền 179.000.000 đồng, trong thời hạn 02 tháng với lãi suất là 20%/01 tháng thì Đỗ Thị A đồng ý. Nên Y Gôn Ê1 và H Kmay H3 đã ký xác nhận giấy tờ vay mượn số tiền 179.000.000 đồng, trong thời hạn 02 tháng với mức lãi suất là 20%/01 tháng, tương ứng với mức lãi suất 243,3%/năm. Tổng số tiền lãi là 71.600.000 đồng trong khi đó, lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước cho số tiền vay trên là 5.978.600 đồng nên Đỗ Thị A nhằm thu lợi bất chính số tiền 65.621.400 đồng. Toàn bộ số tiền gốc và số tiền lãi Y Gôn Ê1 và H Kmay Hđruễ chưa thanh toán cho Đỗ Thị A.
Ngoài ra, bị cáo Đỗ Thị A còn khai nhận trong năm 2022, Đỗ Thị A cho 13 trường hợp vay tiền với lãi suất từ 01%/tháng đến 1,6%/tháng (lãi suất dưới 20%/năm) mức lãi suất cho phép theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự; cho 45 trường hợp vay tiền với lãi suất từ 1,67%/tháng đến 3%/tháng, tương đương với lãi suất 20,32%/năm đến 36,5%/năm (chênh lệch từ 0,32% -16,5%/năm) đã vi phạm quy định về lãi suất cho vay, được quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay Đỗ Thị A chưa thu được tiền gốc và tiền lãi suất.
Đối với Lê Thị Bích L, trú tại buôn ÊČăm, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (là con gái của Đỗ Thị A). Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong thời gian Đỗ Thị A cho người khác vay tiền, thì Lê Thị Bích L có đi cùng Đỗ Thị A và chứng kiến việc Đỗ Thị A cho người khác vay tiền, nhưng L không biết được lãi suất mà bị cáo Đỗ Thị A cho vay là bao nhiêu, Đỗ Thị A cũng không nói cho L biết về lãi suất cho vay. Do đó, việc Đỗ Thị A cho người khác vay tiền với mức lãi suất từ 243,3%/năm đến 304,2%/năm thì Lê Thị Bích L không biết, cũng không tham gia vào việc cho vay lãi nặng của Đỗ Thị A. Kết quả điều tra Lê Thị Bích L có cho 02 người khác vay tiền, tính lãi suất 15.000 đồng/01 triệu/01 tháng, tương đương với lãi suất 18,25%/năm không vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không xử lý hành chính.
Đối với Lê Thị Kim Y, trú tại buôn ÊČăm, thị trấn B, huyện K (cũng là con gái của Đỗ Thị A). Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Trong thời gian Đỗ Thị A cho người khác vay tiền thì Y giúp cho Đỗ Thị A ghi chép những người mượn tiền vào trong một quyển sổ. Bản thân Y chỉ biết được Đỗ Thị A cho người khác vay tiền có lãi suất, nhưng không biết được lãi suất là bao nhiêu, Y cũng không tham gia vào việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cùng bị cáo A. Do đó, Y không đồng phạm với hành vi phạm tội của Đỗ Thị A. Kết quả điều tra còn xác định trong thời gian tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, Lê Thị Kim Y đã cho một số người dân cư trú tại buôn ÊČăm, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vay tiền, với mức lãi suất 15.000 đồng/01 triệu/01 tháng, tương ứng với lãi suất 18,25%/năm, lãi suất cho phép theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự (tối đa 20%/năm) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không xử lý vi phạm hành chính đối với Lê Thị Kim Y.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Đỗ Thị A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị A phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị A số tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại cho bị cáo Đỗ Thị A tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Số tiền 107.020.500 đồng; 11 (mười một) vòng đeo tay bằng kim loại, màu vàng; 16 (mười sáu) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng; 07 (bảy) chiếc bông tai bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) lắc tay bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 45 (bốn mươi lăm) tài liệu, có nội dung “GIẤY MƯỢN TIỀN” (gồm các tài liệu thể hiện nội dung bị cáo Đỗ Thị A cho người khác vay tiền, tính lãi suất vượt quá 20%/01 năm nhưng chưa vượt quá 100%/năm); 45 (bốn mươi lăm) quyển sổ, có bìa màu hồng, bên trong có chứa các tài liệu: Dưới dòng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, có nội dung “GIẤY MƯỢN TIỀN”, kèm theo các trường thông tin, trong đó dòng cuối cùng có nội dung “BÊN CHO MƯỢN”; “BÊN MƯỢN TIỀN”; “Chồng (ký tên)”, “Vợ (Ký tên)” và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
* Trả cho bà Lê Thị Bích L tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE FI, màu sơn: Đen, mang biển kiểm soát 47L1-134.31, số máy JC54E2064901, số khung 5373EY020852; số tiền 794.050.000 đồng (bảy trăm chín mươi bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng); 06 (sáu) nhẫn kim loại màu vàng; 02 (hai) vòng kim loại màu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31; 01 (một) Quyển/Tập vở (dạng vở học sinh); 01 (một) bản gốc và 04 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Lê Thị Bích L, số BY 813785; 01 (một) bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Lê Thị Bích L, số DM 058161 và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
* Trả cho bà Lê Thị Kim Y tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Số tiền 24.770.500 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng); 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, màu bạc, số Imeil: 353317097365234, số Imei2: 353318097365232; được gắn sim điện thoại số 0368.625.xxx; 01 Điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu trắng, số Imeil: 861915049724898, số Imei2: 861915049724906; không gắn thẻ sim; 01 vòng cổ bằng kim loại màu vàng; 03 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 04 vòng đeo tay kim loại màu vàng; 04 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng; 02 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng; 02 (hai) cuốn biên lai giấy mượn tiền đã qua sử dụng, có chữ ký xác nhận của Lê Thị Kim Y và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) hộp dấu, mực màu đỏ; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO, HL-122TV là vật chứng của vụ án.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính là 416.428.650 đồng, bị cáo chưa thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay), nên không đề cập xử lý.
Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước các khoản sau:
- Truy thu của vợ chồng ông Y Thiếu B và bà H Nưm Hwing số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là: 25.951.800 đồng.
- Truy thu của vợ chồng ông Y Yip Ê và bà H Yil Knul số tiền gốc 20.000.000 đồng và số tiền lãi là: 4.717.750 đồng.
- Truy thu của vợ chồng ông Y Gôn Ê2 và bà H Kmay Hđruễ số tiền gốc 25.000.000 đồng và số tiền lãi là: 5.978.600 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo ông Phạm Văn N trình bày lời bào chữa:
Về tội danh:
Đối với hành vi bị cáo cho vợ chồng ông Y Yip Ê và H Yil K và vợ chồng ông Y Gôn Ê2 và bà H Kmay H3 vay thì đã cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Riêng việc bị cáo cho vợ chồng ông Y Thiếu B và bà H Nưm Hwing vay, mặc dù ban đầu thỏa thuận lãi suất 20%/tháng nhưng sau đó bị cáo đã chủ động gặp bên vay để chỉnh sửa lãi suất nhưng bên vay không đồng ý. Bị cáo đã chủ động chỉnh sửa lại lãi suất là 2%/tháng trong giấy vay mà mình lưu giữ nên hành vi của bị cáo không phạm tội.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 15; Điều 57 của Bộ luật hình sự để áp dụng cho bị cáo là phạm tội chưa đạt.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; nhận thức pháp luật còn hạn chế; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Qua quá trình tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện KrôngAna vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Thị A không bổ sung lời bào chữa, không tranh luận lại với đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố thì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bà những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ cuối năm 2021 đến cuối năm 2022, tại địa bàn huyện K, Đỗ Thị A cho vợ chồng ông Y Thiếu B, bà H Nưm H4; vợ chồng ông Y Yip Ê; bà H Y1; vợ chồng ông Y Gôn Ê2, bà H Kmay H3 vay tiền, với hình thức vay nợ gốc và lãi suất không trả được lại cộng gộp nợ gốc và nợ lãi thành nợ gốc với tổng số tiền cho vay là 494.500.000 đồng, lãi suất từ 243,3% đến 304,2%/năm. Tổng số tiền lãi nặng là 453.025.000 đồng, tổng số tiền lãi suất cao nhất được Nhà nước cho phép, tại thời điển cho vay là 36.648.150 đồng, nhằm thu lợi bất chính số tiền là 416.376.850 đồng. Toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi này thì bị cáo A chưa thu được của người vay.
Như vậy, đã đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Tại Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay....”.
Điều 201 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện KrôngAna đã truy tố bị cáo Đỗ Thị A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét lời bào chữa của Luật sự cho rằng: Việc cho vợ chồng ông Y Thiếu B và bà H Nưm H4 vay số tiền 259.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 20%/tháng nhưng sau đó điều chỉnh lại trong giấy vay của bị cáo A là 2%/ tháng nên lần này không cấu thành tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy luận cứ bào chữa này không có căn cứ, bởi lẽ theo chứng cứ và tài liệu do vợ chồng ông Y Thiếu B, bà H Nưm H4 làm đơn tố giác tội phạm thì vẫn thể hiện 20%/tháng và không có thõa thuận nào thay đổi; theo vợ chồng Y T1 có việc bị cáo A đến nhà xin lại tài liệu là giấy vay nhưng vợ chồng ông không đồng ý và giấy vay cũng chỉ sửa trên giấy vay do bị cáo Anh cất giữ là không có căn cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định với hành vi bị cáo A cho vợ chồng ông Y t vay đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Xét đề nghị của Luật sư áp dụng Điều 15; Điều 57 của Bộ luật hình sự là phạm tội chưa đạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm, tuy nhiên bản thân bị cáo chưa thu được bất kỳ khoản tiền nào kể cả nợ gốc và nợ lãi. Vì vậy, việc đề nghị của Luật sư là có căn cứ nên cần áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thị A phạm tội 02 lần trở lên. Đây là tình tăng nặng nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; nhận thức pháp luật còn hạn chế; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy việc Luật sư đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế (trình độ học vấn 01/12) là có căn cứ để áp dụng cho bị cáo.
Đối với tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn là không có căn cứ áp dụng. Bởi lẽ: Trong vụ án này bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên; bị cáo phạm tội xâm phạm đến khách thể là xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về hoạt động tín dụng nên không có căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo phạm tội chưa đạt; Bản thân bị cáo phạm tội không phải có tính chất chuyên nghiệp, không hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp và đảm bảo đúng với quy định của pháp luật Nhà nước ta về việc xử lý đối với tội danh này.
[4]. Về xử lý vật chứng:
[4.1]. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện K đã thu giữ một số tài liệu, đồ vật của bị cáo Đỗ Thị A và của 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lê Thị Bích L và Lê Thị Kim Y nhưng những đồ vật, tài liệu này không liên quan đến vụ án, nên cần chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau:
- Trả cho bị cáo Đỗ Thị A tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Số tiền 107.020.500 đồng; 11 (mười một) vòng đeo tay bằng kim loại, màu vàng; 16 (mười sáu) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng; 07 (bảy) chiếc bông tai bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) lắc tay bằng kim loại, màu vàng; 03 (ba) mặt dây chuyền bằng kim loại, màu vàng; 45 (bốn mươi lăm) tài liệu, có nội dung “GIẤY MƯỢN TIỀN” (gồm các tài liệu thể hiện nội dung bị cáo Đỗ Thị A cho người khác vay tiền, tính lãi suất vượt quá 20%/01 năm nhưng chưa vượt quá 100%/năm); 45 (bốn mươi lăm) quyển sổ, có bìa màu hồng, bên trong có chứa các tài liệu: Dưới dòng “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, có nội dung “GIẤY MƯỢN TIỀN”, kèm theo các trường thông tin, trong đó dòng cuối cùng có nội dung “BÊN CHO MƯỢN”; “BÊN MƯỢN TIỀN”; “Chồng (ký tên)”, “Vợ (Ký tên)” và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
- Trả cho bà Lê Thị Bích L tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE FI, màu sơn: Đen, mang biển kiểm soát 47L1-134.31, số máy JC54E2064901, số khung 5373EY020852; số tiền 794.050.000 đồng (bảy trăm chín mươi bốn triệu, không trăm năm mươi nghìn đồng); 06 (sáu) nhẫn kim loại màu vàng; 02 (hai) vòng kim loại màu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A31; 01 (một) Quyển/Tập vở (dạng vở học sinh); 01 (một) bản gốc và 04 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Lê Thị Bích L, số BY 813785; 01 (một) bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Lê Thị Bích L, số DM 058161 và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
- Trả cho bà Lê Thị Kim Y tài sản, đồ vật, tài liệu gồm: Số tiền 24.770.500 đồng (hai mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi nghìn năm trăm đồng); 01 điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, màu bạc, số Imeil: 353317097365234, số Imei2: 353318097365232; được gắn sim điện thoại số 0368.625.xxx; 01 Điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu trắng, số Imeil: 861915049724898, số Imei2: 861915049724906; không gắn thẻ sim; 01 vòng cổ bằng kim loại màu vàng; 03 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 04 vòng đeo tay kim loại màu vàng; 04 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng; 02 nhẫn hình tròn bằng kim loại màu vàng; 01 vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng; 02 (hai) cuốn biên lai giấy mượn tiền đã qua sử dụng, có chữ ký xác nhận của Lê Thị Kim Y và một số giấy tờ khác không liên quan đến việc phạm tội.
[3.2]. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) hộp dấu, mực màu đỏ; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO, HL-122TV là vật chứng của vụ án.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện KrôngAna).
[3.3]. Đối với số tiền thu lợi bất chính là 416.428.650 đồng, bị cáo chưa thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nên không đề cập xử lý.
[3.4]. Truy thu nộp vào ngân sách nhà nước các khoản sau:
- Truy thu của vợ chồng ông Y Thiếu B và bà H Nưm Hwing số tiền gốc là 20.000.000 đồng và số tiền lãi là: 25.951.800 đồng.
- Truy thu của vợ chồng ông Y Yip Ê và bà H Yil Knul số tiền gốc 20.000.000 đồng và số tiền lãi là: 4.717.750 đồng.
- Truy thu của vợ chồng ông Y Gôn Ê2 và bà H Kmay Hđruễ số tiền gốc 25.000.000 đồng và số tiền lãi là: 5.978.600 đồng.
Kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana chủ động ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thi hành số tiền nói trên thì hàng tháng bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự. Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4]. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Thị A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Tuấn |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị A, cư trú tại thị Trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình làm ăn mua bán, đã có hành vi cho vay lãi nặng để trục lợi. Hành vi của A đã bị truy tố về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", theo khoản 2 Điều 201 của BLHS.
