TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA Bản án số: 17/2023/HSST Ngày: 14/11/2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Trung Trọng.
- Ông Đỗ Thanh Tân.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 14/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 23/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 02/11/2023 đối với các bị cáo:
- Quàng Văn B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm : 1960 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn N( đã chết) và bà: Quàng Thị H, sinh năm: 1934; Bị cáo có vợ: Quàng Thị X, sinh năm: 1960 và 04 con lớn nhất 40 tuổi nhỏ nhất 32 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/10/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích); Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 cho đến nay, có mặt.
- Quàng Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1971 tại xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản B2, xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn S(đã chết) và bà: Quàng Thị S, sinh năm: 1944; Bị cáo có vợ: Quàng Thị H, sinh năm: 1972 và 03 con lớn nhất 31 tuổi nhỏ nhất 24 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2023 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 11/7/2023, tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản B2, xã T, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Quàng Văn M có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- + Một gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít chất bột cục màu trắng hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp( M khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn).
- + Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEKU, màu đen, số IMEI 1: 860179610116213; IMEI2: 860199610116221; IMEI3: 860179610116239.
Mở rộng điều tra, Quàng Văn M khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của Quàng Văn B. Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 11/7/2023, tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản B, xã T, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Quàng Văn B có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ gồm:
- + Một gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 03 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp( B khai nhận là Heroine và hồng phiến).
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy A7, số IMEI 1: 864267040942955; IMEI2: 864267040942948.
- + Một tờ polyme mệnh giá 50.000 đồng ( B khai nhận là tiền bán ma túy cho M).
Ngày 12/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp trộn lẫn thu giữ của Quàng Văn M khối lượng 0,13 gam trích rút toàn bộ 0,13 gam ( ký hiệu M1) gửi giám định chất và loại ma túy.
Ngày 12/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tiến hành bóc mở niêm phong cân tịnh số bột cục màu trắng nghi là Heroine và 03 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Quàng Văn B. Cân tịnh số bột cục màu trắng nghi là Heroine khối lượng là 0,18 gam trích rút toàn bộ 0,18 gam( ký hiệu B1). Cân tịnh 03 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp khối lượng là 0,30 gam trích rút toàn bộ 0,30 gam ( ký hiệu B2) gửi giám định chất và loại ma túy.
Ngày 27/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã ra Quyết định số 254/QĐ trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định số tiền 50.000 đồng thu giữ của Quàng Văn B.
Tại Kết luận giám định số: 1757/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma túy; loại Methamphetamine và loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại Kết luận giám định số: 1756/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “ Mẫu gửi giám định ký hiệu B1 là ma túy; loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,18 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu B2 là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Quàng Văn B gồm: 0,18 gam loại Heroine; 0,30 gam loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1896/KL-KTHS ngày 11/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Số tiền 50.000 VNĐ gửi giám định là tiền thật” (Hoàn lại đối tượng giám định: Toàn bộ đối tượng gửi giám định).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, Quàng Văn B, Quàng Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 11/7/2023 Quàng Văn B đi bộ một mình từ nhà ao bản B, xã T, huyện Thuận Châu đến bản Thôm 1, xã T, huyện Thuận Châu tìm mua ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời. Khi đi đến đây thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái ( B không quen biết và địa chỉ) được một gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít Heroine và 04 viên hồng phiến với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì B đi bộ về nhà ao của tại bản B, xã T, huyện Thuận Châu lấy một ít Heroine và một nửa viên hồng phiến ra sử dụng bằng hình thức đốt hít, số ma túy còn lại B gói lại bằng gói nilon màu trắng rồi cất vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc để sử dụng dần và bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ 40 phút thì có Quàng Văn M gọi điện hỏi mua ma túy để sử dụng. Qua trao đổi B đồng ý bán ma túy cho M và hẹn đến nhà ao để lấy. Sau đó M đến và đưa cho B số tiền là 50.000 đồng, B cầm tiền và trộn lẫn một ít Heroine và một mảnh hồng phiến thành chất bột cục màu trắng hồng cho vào một gói nilon màu trắng đưa cho M. M cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ về nhà. Khi M đi đến bản B2, xã T, huyện Thuận Châu thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ gói ma túy mà M cất giấu. Tổ công tác đã đưa M về trụ sở UBND xã T, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó M cùng vật chứng đã được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 11/7/2023, tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy đổi với Quàng Văn B. Quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ gói ma túy mà B cất giấu trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc có 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine và 03 viên ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng đưa B về trụ sở UBND xã T, huyện Thuận Châu lập biên bản băt người có hành vi phạm tội quả tang. Sau đó B cùng vật chứng đã được dẫn giải về Công an huyện Thuận Châu xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 196/CT-VKS-HS ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Quàng Văn B về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố Quàng Văn M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Quàng Văn B, Quàng Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Quàng Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy, truy tố Quàng Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Quàng Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn B từ 32 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Tuyên bố Quàng Văn M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Quàng Văn M từ 18 đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự :
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có : 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tạm giữ khi bắt quả tang Quàng Văn B.
- + Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tạm giữ khi bắt quả tang Quàng Văn M.
- + Một phong bì màu trắng bên trong có: 02 vỏ phong bì 02 chiếc điện thoại di động của Quàng Văn B và Quàng Văn M.
- - Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:
- + Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 50.000 đồng đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng.
- + Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEKU, màu đen, số IMEI 1: 860179610116213; IMEI2: 860199610116221; IMEI3: 860179610116239 đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng.
- + Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy A7, số IMEI 1: 864267040942955; IMEI2: 864267040942948 đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng.
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn B.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quàng Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Ý kiến của bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn M: Đều nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng của các bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn M thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chính cho các bị cáo và xin miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn M nhận thấy: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 11/7/2023, Quàng Văn M gọi điện cho Quàng Văn B hỏi mua ma túy để sử dụng. Qua trao đổi B đồng ý bán ma túy cho M và hẹn đến nhà ao tại bản B2, xã T, huyện Thuận Châu để lấy. Sau đó M đến và đưa cho B số tiền là 50.000 đồng, B cầm tiền và trộn lẫn một ít Heroine và một mảnh hồng phiến còn lại thành hỗn hợp chất bột cục màu trắng hồng cho vào một gói nilon màu trắng đưa cho M. M cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ về nhà. Khi M đi đến bản B2, xã T, huyện Thuận Châu thì bị tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ gói ma túy mà M cất giấu. Tổ công tác đã đưa M về trụ sở UBND xã T, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 11/7/2023, tổ công tác Công an xã T, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy đối với Quàng Văn B. Quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ gói ma túy mà B cất giấu trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc có 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine và 03 viên ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng đưa B về trụ sở UBND xã T, huyện Thuận Châu lập biên bản băt người có hành vi phạm tội quả tang.
Quàng Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy 0,13 gam loại Methamphetamine và loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine ( Quàng Văn M mua trái phép chất ma túy của Quàng Văn B với giá 50.000 đồng ) nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.
Quàng Văn B đã có hành vi bán trái phép chất ma túy có khối lượng 0,13 gam loại Methamphetamine và loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine; Tàng trữ 0,18 gam loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine và 0,30 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,61 gam nhằm mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời.
Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của các bị cáo phù hợp với:
Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản đối chất; Biên bản kiểm trra điện thoại; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La.
[3] Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,13 gam loại Methamphetamine và loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine với mục đích để sử dụng của Quàng Văn M đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi bán trái phép 0,33 gam loại Methamphetamine và loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine cho Quàng Văn M để được hưởng lợi 50.000 đồng và tàng trữ 0,18 gam loại Heroine có tên khoa học là Diacentymorphine, 0,30 gam loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là 0,61 gam nhằm mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời của Quàng Văn B đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo Quàng Văn M tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn M đều có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo Quàng Văn B có 01 tiền án (đã xóa án tích ) thuộc trường hợp người có nhân thân xấu. Bị cáo Quàng Văn M phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự.
Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo phạm tội độc lập, không cùng thực hiện một tội phạm do đó không có vai trò đồng phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quàng Văn B và tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quàng Văn M.
[6] Về nguồn gốc số ma túy: Quàng Văn B khai nhận số ma túy dùng để bán cho Quàng Văn M vào ngày 11/7/2023 là do B mua của một người đàn ông dân tộc Thái được một gói nilon màu trắng bên trong có chứa một ít Heroine và 04 viên hồng phiến với giá 300.000 đồng tại bản Thôm 1, xã T, huyện Thuận Châu nhưng do B không biết họ tên, tuổi và địa chỉ cư trú của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra xử lý.
[7] Vật chứng vụ án: Đối với một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: Một mảnh nilon màu trắng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Một phong bì niêm phong có viền màu xanh, đỏ bên trong có: Một mảnh nilon màu trắng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Một vỏ phong bì niêm phong màu trắng bên trong có: 02 vỏ phong bì niêm phong hai chiếc điện thoại di động của Quàng Văn B và Quàng Văn M là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 50.000 đồng thu giữ của Quàng Văn B là tiền do phạm tội mà có do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEKU, màu đen đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng thu giữ của Quàng Văn M. Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy A7 đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng thu giữ của Quàng Văn B là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
( Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ).
[8] Về án phí: Bị cáo Quàng Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Quàng Văn B là người cao tuổi do vậy miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn B phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn B 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo Quàng Văn B.
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn M 20 ( hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo Quàng Văn M.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- + Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn B - Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 11/7/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 062160 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có : Một mảnh nilon màu trắng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tạm giữ khi bắt quả tang Quàng Văn B.
- + Một phong bì niêm phong, có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi : Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn M - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 11/7/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 062158 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có : Một mảnh nilon màu trắng + Một vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu tạm giữ khi bắt quả tang Quàng Văn M.
- + Một phong bì niêm phong màu trắng, mặt trước ghi: Vỏ phong bì niêm phong hai chiếc điện thoại di động của Quàng Văn B và Quàng Văn M, tạm giữ ngày 11/9/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025738 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu bên trong có: 02 vỏ phong bì niêm phong hai chiếc điện thoại di động của Quàng Văn B và Quàng Văn M.
- - Tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:
- + Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại máy A7, số IMEI 1: 864267040942955; IMEI2: 864267040942948 màu bạc, đã sử dụng cũ được đựng trongmột phong bì niêm phong màu trắng, mặt trước ghi:Điện thoại di động của Quàng Văn B, đã kiểm tra ngày 11/9/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025740 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu.
- + Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MEKU, màu đen, số IMEI 1: 860179610116213; IMEI2: 860199610116221; IMEI3: 860179610116239 đã qua sử dụng được đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng, mặt trước ghi:Điện thoại di động của Quàng Văn M, đã kiểm tra ngày 11/9/2023. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 025739 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu.
- + Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam: 50.000 đồng ( năm mươi nghìn đồng) được đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng, mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 0019307 đè lên các mép dán. Trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).
3. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thâm cho bị cáo Quàng Văn B.
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quàng Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thâm là 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự : Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Tiến Hải |
Bản án số 17/2023/HSST ngày 14/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn B + Quàng Văn M
