|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 14 tháng 8 năm 2024 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1988 (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: xóm Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: ông Lã Thành C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
- Bị đơn: Anh Hà Mỹ T1, sinh năm 1985 (vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: xóm Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T1: ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 29/12/2005, chị Đinh Thị T với anh Hà Mỹ T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó cuộc sống chung bắt đầu mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên ngăn nhưng hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Nay xét thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Mỹ T1.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh T1 có 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013. Khi vợ chồng ly hôn, chị T đồng ý để anh T1 nuôi dưỡng cả 03 con chung. Chị T không cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T1.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: chị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2]. Bị đơn anh Hà Mỹ T1, trong quá trình giải quyết vụ án anh T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 xác nhận về thời gian vợ chồng kết hôn như chị T trình bày trong đơn khởi kiện và bản tự khai là đúng. Tuy nhiên anh cho rằng trong cuộc sống chung vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc không có phát sinh mâu thuẫn gì. Nay chị T xin ly hôn, anh đề nghị Toà án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật vì chị T đã tự ý bỏ nhà đi từ ngày 09/1/2024 đến nay.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013. Khi vợ chồng ly hôn, nguyện vọng các cháu muốn ở cùng bố hay mẹ thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung. Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: anh T1 không đề nghị Tòa án giải quyết.
[3]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Nhất trí theo quan điểm của chị T trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn anh T1.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cả 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013 cho anh H Mỹ Thuận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T1 nhưng được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T, anh T1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án nên đây là vụ án không tiến hành hoà giải được. Thẩm phán đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyên đơn và Bị đơn đúng theo khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, Bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T, anh T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T, anh T1 là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Chị T, anh T1 có 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013. Khi ly hôn chị T đồng ý để anh T1 nuôi dưỡng cả 03 con chung nên giao các cháu cho anh T1 nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 1,2 Điều 81, 82, 83 Luật hôn và nhân gia đình.
Đối với tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Chị T, anh T1 không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Khi nào chị T, anh T1 có yêu cầu thì anh, chị có quyền làm đơn đề nghị giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định.
Về án phí dân sự: Chị Đinh Thị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiên phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị được ly hôn với anh Hà Mỹ T1, sinh năm 1985; trú tại: xóm Đ, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án. Vì vậy, Tòa án xác định vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị T, anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh T1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Năm 2005, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên ngăn nhưng hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung lâm vào tình trạng trầm trọng không thể kéo dài. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm rõ hiện vợ chồng anh, chị đã ly thân, không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh T1 đã đến mức trầm trọng, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.
[3]. Về con chung: Chị T, anh T1 có 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013. Khi vợ chồng ly hôn, chị T đồng ý để anh T1 được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung. Đồng thời nguyện vọng của cháu D1, cháu D2 và cháu D3 là đều muốn ở cùng với bố nên cần ghi nhận nguyện vọng của các cháu là phù hợp. Anh T1 không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh.
[4]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T, anh T1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này chị T, anh T1 có yêu cầu thì anh; chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
[5]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
[6]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự tại phiên toà là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; 57; khoản 1, 2 Điều 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hà Mỹ T1.
Về con chung: Giao cho anh H Mỹ Thuận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung là cháu Hà Thị D1, sinh ngày 13/9/2006, cháu Hà Thị D2, sinh ngày 01/8/2011 và cháu Hà Anh D3, sinh ngày 30/9/2013 kể từ tháng 8 năm 2024 đến khi các cháu thành niên. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị Đinh Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án theo Biên lai thu số 0004669 ngày 01/7/2024.
Về quyền kháng cáo: Chị T, anh T1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Văn Chí |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T khởi kiện ly hôn với anh T1
