TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 17/2023/KDTM-ST Ngày: 14 - 8 - 2023 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Từ Anh Tuấn.
- 2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 18/2023/TLST- KDTM ngày 09 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH D; địa chỉ: Lô B, đường D, khu A, Khu công nghiệp S, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô N, sinh năm 1967; địa chỉ: Số B đường E, Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH Q; địa chỉ: T đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, Thành phố D, Tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Bà Nguyễn Đào Lâm U - Chức vụ: Giám đốc. Bà U vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 4 năm 2023, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng của nguyên đơn Công ty TNHH D do ông Ngô N đại diện trình bày:
Ngày 03/01/2022, Công ty TNHH D (sau đây gọi tắt là Công ty D) và Công ty TNHH Q (sau đây gọi tắt là Công ty Q) ký Hợp đồng nguyên tắc về việc thỏa thuận mua bán thép, theo nội dung hợp đồng thì Công ty D sẽ bán cho Công ty Q, thép cán nguội, thép cán nóng, thép mạ điện, thép mạ kẽm, thép ống,... theo từng đơn đặt hàng thực tế của Công ty Q. Trong năm 2022, Công ty Q đã nhiều lần đặt của Công ty DHP hàng hóa là ống thép các loại. Cụ thể:
- Tháng 05/2022: Công ty D đã giao cho Công ty Q 03 đợt hàng với số lượng 3.249 cây thép, giá trị tiền hàng là 528.327.301 đồng (đã bao gồm thuế VAT) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 21 ngày 30/5/2022.
- Tháng 06/2022: Công ty D đã giao cho Công ty Q 01 đợt hàng với số lượng 764 cây thép, giá trị tiền hàng là 103.831.606 đồng (đã bao gồm thuế VAT) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 127 ngày 28/6/2022.
Các số liệu công nợ của tháng 05/2022 và tháng 06/2022 đã được kế toán 02 bên đối chiếu và xác nhận qua tin nhắn. Tổng tiền hàng của tháng 05/2022 và tháng 06/2022 mà Công ty Q còn nợ của Công ty D là 632.158.907 đồng nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán cho Công ty D.
Công ty D đã nhiều lần yêu cầu Công ty Q trả hết số nợ trên nhưng Công ty Q vẫn không trả. Nay Công ty D yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An giải quyết buộc Công ty TNHH Q phải trả cho Công ty TNHH D số tiền 632.158.907 đồng (Sáu trăm ba mươi hai triệu, một trăm năm mươi tám nghìn, chín trăm lẻ bảy đồng) cộng với lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 03 Ngân hàng thương mại (Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh B; Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh B và Ngân hàng N2 – Chi nhánh D1) kể từ ngày chậm thanh toán là ngày 08/7/2022 cho đến ngày 08/8/2023 (13 tháng), lãi suất nợ quá hạn trung bình là 13,65%/năm (tức 1,13%/tháng).
Cụ thể như sau: (632.158.907 đồng x 1,13%/tháng x 13 tháng) = 92.864.143 đồng.
Tổng số tiền nợ mua hàng và tiền lãi Công ty TNHH Q phải trả cho Công ty TNHH D là: 632.158.907 đồng + 92.864.143 đồng = 725.023.050 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn Công ty TNHH Q:
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn Công ty TNHH Q tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án đã yêu cầu Công ty TNHH Q có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng Công ty TNHH Q không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình mua hàng hóa, việc trả tiền gốc và lãi cho nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn Công ty TNHH Q.
* Tại văn bản số 648/ĐKKD ngày 28/7/2023 Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cung cấp thông tin: Công ty TNHH Q, mã số doanh nghiệp C1; đăng ký lần đầu ngày 22/01/2020, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 20/01/2021; địa chỉ trụ sở chính: Thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, Thành phố D, Tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: (Bà) Nguyễn Đào Lâm U; Chức danh: Giám đốc.
Tình trạng pháp lý: Đang hoạt động.
Hiện tại Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B đang tiếp nhận hồ sơ thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (hồ sơ xin tạm ngừng hoạt động). Hồ sơ đang được xem xét, giải quyết theo quy định.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật của vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH D là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Công ty TNHH D khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Q thanh toán khoản nợ gốc và lãi về việc mua hàng hoá là thép các loại. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Bị đơn Công ty TNHH Q có địa chỉ trụ sở tại: Thửa đất số 370-373, tờ bản đồ số 10, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty TNHH Q; đồng thời đã triệu tập hợp lệ đại diện bị đơn Công ty TNHH Q tham gia các buổi làm việc, phiên họp, phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do; không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ; không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn Công ty TNHH Q phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ cở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tiền nợ gốc:
Nguyên đơn trình bày có thỏa thuận, giao dịch mua bán hàng hóa là thép silic, thép cán nguội, thép cán nóng, thép mạ điện, thép mạ kẽm, thép ống với bị đơn Công ty TNHH Q vào tháng 5 và 6 năm 2022. Việc mua bán hai bên ký Hợp đồng nguyên tắc số DHP-JUNYANG030122/HĐNT2022 ngày 03/01/2022 và phụ lục hợp đồng nguyên tắc số DHP-JUNYANG030122/HĐNT2022 ngày 03/01/2022. Nguyên đơn cung cấp cho bị đơn các loại thép số lượng theo từng đơn đặt hàng của bị đơn. Đơn giá theo bảng báo giá của nguyên đơn gửi cho bị đơn và theo sự thỏa thuận giữa các bên. Thời hạn thanh toán là: 07 ngày (kể từ ngày kết thúc tháng).
Sau khi giao hàng và xác nhận giữa các bên thì phía nguyên đơn đã chốt công nợ và xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bị đơn theo các Hóa đơn giá trị gia tăng số 127 ngày 28/6/2022 và số 21 ngày 30/5/2022. Các số liệu công nợ của tháng 5/2022 và tháng 6/2022 đã được kế toán 02 bên đối chiếu và xác nhận qua tin nhắn.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty TNHH Q không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình mua hàng hóa, việc trả tiền gốc và lãi cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là: 632.158.907 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự; Điều 50, 55 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019.
[2.2] Về lãi chậm thanh toán:
Tại Hợp đồng nguyên tắc số DHP-JUNYANG030122/HĐNT2022 ngày 03/01/2022 và phụ lục hợp đồng nguyên tắc số DHP-JUNYANG030122/HĐNT2022 ngày 03/01/2022 các bên không thỏa thuận về mức lãi chậm thanh toán. Tuy nhiên, theo Điều 306 Luật Thương mại quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Do đó, mức lãi suất chậm thanh toán của bị đơn được tính theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo thông báo lãi suất cho vay số 170/NHNo.ST-KVKH ngày 05/5/2023 của Ngân hàng N2 là 9,5%; thông báo lãi suất cho vay số 08/NBD.LSCVSME2022 ngày 05/5/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 là 8,3%/năm; thông báo lãi suất cho vay số 359/CV-CNKCNBD-TH ngày 30/5/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần C là 9,5%/năm thì lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường trên cơ sở mức lãi suất cho vay ngắn hạn của 03 Ngân hàng là: (9.5%/năm + 8.3%/năm + 9,5%/năm) : 3 x 150% = 13.65%/năm. Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất là 1,13%/tháng (tương đương 13.65%/năm) bằng với mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về thời điểm tính lãi suất: Theo quy định tại Khoản 4.2 Điều 4 Hợp đồng nguyên tắc số DHP-JUNYANG030122/HĐNT2022 ngày 03/01/2022 thì Thời hạn thanh toán là: 07 ngày (kể từ ngày kết thúc tháng). Thời điểm để tính lãi chậm trả đối với hóa đơn giá trị gia tăng số 21 ngày 30/5/2022 là ngày 08/6/2022 và đối với hóa đơn giá trị gia tăng số 127 ngày 28/6/2022 là 08/7/2022. Nguyên đơn yêu cầu tính từ ngày 08/7/2022 cho đến ngày 08/8/2023 là sự tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.
Như vậy, số tiền lãi chậm trả bị đơn phải trả cho nguyên đơn là: (632.158.907 đồng x 1,13%/tháng x 13 tháng) = 92.864.143 đồng.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH Q phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho Công ty TNHH D theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 24, 50, 55, 306 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019;
Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty TNHH D với bị đơn công ty TNHH Q về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn công ty TNHH Q phải chịu 33.000.922 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty TNHH D số tiền 15.781.064 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006324 ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Buộc công ty TNHH Q phải thanh toán cho công ty TNHH D số tiền mua hàng hóa còn nợ là 725.023.050 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 632.158.907 đồng, tiền lãi chậm thanh toán: 92.864.143 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 17/2023/KDTM-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 17/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
