Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 13-8-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tấn Đạt.
  2. Bà Nguyễn Trần Mỹ Tân.

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn G. Tên gọi khác: không; sinh ngày: 27/8/1989; nơi sinh: tỉnh Long An. Nơi cư trú: Số D, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn C và bà Trần Thị X; Vợ: Nguyễn Thanh T; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự : không

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/4/2024 đến ngày 16/6/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1)- Ông Lê Hoàng P, sinh ngày 05 tháng 10 năm 2007; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.

2)- Bà Trần Thị Thúy H, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số nhà B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1986; Địa chỉ: D, ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng P, sinh ngày: 05/10/2007, là con ruột của Lê Văn G và bà Nguyễn Thanh T. Lê Văn G đứng tên chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn: Đen - xám - vàng, biển số 62H1-138.24.

Khoảng tháng 3/2023, Lê Văn G đồng ý giao chiếc xe mô tô biển số 62H1-138.24, có dung tích xi lanh là 113 cm³ (trên 50 phân khối) cho Lê Hoàng P hàng ngày tự điều khiển đi làm công nhân tại khu công nghiệp T - huyện B, tỉnh Long An và đi về sau khi tan ca. Lúc này, Lê Hoàng P mới 16 tuổi, không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định pháp luật.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, sau khi tan ca Lê Hoàng P điều khiển xe mô tô biển số 62H1-138.24 từ Công ty giày thuộc khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Long An để về nhà, khi P điều khiển xe mô tô trên qua cầu N đến KM11+ (gần đến giao lộ H và đường C) trên tỉnh lộ 832 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An, do không chú ý quan sát nên khi thấy có xe mô tô biển số 62H1-232.57 do ông Lê Hoàng K điều khiển từ hướng lộ Cao Thị M ra đường T cho xe rẽ trái lên hướng cầu N, thì P lách xe sang trái theo chiều đi của mình để tránh xe này nhưng đã để xe mô tô do mình điều khiển va chạm với xe mô tô do ông Lê Hoàng K điều khiển, làm ông KP cùng 02 phương tiện xe mô tô ngã xuống đường. Ông K bị bất tỉnh được đưa đến bệnh viện Đ cấp cứu, tiếp tục chuyển đến bệnh viện C1, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị, do ông K bị chấn thương sọ não nặng đến 07 giờ 30 phút ngày 25/10/2023 đã tử vong.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST, ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã xét xử Lê Hoàng P về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTTr ngày 15 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ đã truy tố bị cáo Lê Văn G về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn G theo tội danh và điều luật nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 35; Điều 50; điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn G số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng xin xem xét giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trần Thị Thúy H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đương sự đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự, theo quy định tại các Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Tại phiên toà bị cáo Lê Văn G đã khai nhận: Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, mặc dù biết rõ Lê Hoàng P con ruột của mình không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, nhưng Lê Văn G vẫn giao xe mô tô biển số 62H1-138.24, có dung tích 113cm³ của bị cáo cho Lê Hoàng P tự điều khiển để đi làm công nhân, trên đường đi làm về từ khu công nghiệp T, huyện B, tỉnh Long An đến nhà ngụ ấp A xã T, huyện T, tỉnh Long An, khi đến gần giao lộ H và đường C trên tỉnh lộ 832 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, P điều khiển xe mô tô trên gây tai nạn với xe mô tô biển số 62H1-232.57 do ông Lê Hoàng K điều khiển. Hậu quả làm ông K bị chấn thương sọ não nặng, tử vong vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 25/10/2023.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

Hành vi của bị cáo Lê Văn G là nguy hiểm cho xã hội đã phạm vào khoản 10 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008, quy định các hành vi bị nghiêm cấm “Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ”, đã gây hậu quả nghiêm trọng.

Điều 264 Bộ luật hình sự, quy định tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, cụ thể:

“1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Làm chết người;

...

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng”.

Xét thấy hành vi của bị cáo Lê văn G1 đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác.

Do đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê văn G1 đã phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo Lê Văn Giàu nhận thức pháp luật hạn chế. Bị cáo biết rõ con của bị cáo là Lê Hoàng P không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật nhưng vẫn giao xe mô tô biển số 62H1-138.24 của bị cáo cho con bị cáo điều khiển để đi làm công nhân, gây tai nạn giao thông làm một người chết. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý (bị cáo biết rõ giao xe mô tô cho con bị cáo điều khiển có thể xảy ra hậu quả, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì có thể ngăn chặn được). Do đó, để lập lại trật tự kỷ cương của pháp luật, cần tuyên cho bị cáo một hình phạt tương xứng thì mới đề cao tính nghiêm minh của pháp luật cũng như răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, có con ruột bị khuyết tật nặng, được hưởng trợ cấp xã hội; được đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, được quy định tại điểm s, i, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo về tội danh và mức án trên là phù hợp.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn G đã hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 128.000.000 đồng (một trăm hai mươi tám triệu đồng) trong vụ án Lê Hoàng P, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Trong vụ án này gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[4] Về án phí: Bị cáo Lê Văn G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn G phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; Điều 35; Điều 50; điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn G số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Về án phí: Bị cáo Lê Văn G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Đạt - Nguyễn Trần Mỹ TânPhạm Văn Thái
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 13/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn G phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger