Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13-5-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Lê Thanh Hồng.

Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1993; nơi thường trú: Ấp H, xã L, huyện B, tỉnh D, có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Danh O, sinh năm 1993; nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện X, tỉnh X; nơi tạm trú: Đường D11, khu công nghiệp B, khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị H và anh O tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã L, huyện B, tỉnh D theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 04/2017, ngày 09 tháng 01 năm 2017. Sau khi kết hôn, chị H và anh O sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi. Anh O không lo cho vợ, không có trách nhiệm với gia đình dù chị H đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh O không thay đổi. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H và anh O không còn sống chung từ tháng 6 năm 2023. Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh O.

Về con chung: Có hai con chung là cháu Trần Thị Diệp A, sinh ngày 11-6-2018 và cháu Trân Danh Gia V, sinh ngày 17-8-2022. Khi ly hôn, chị H có quyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị H không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Danh O được Tòa án triệu tập để lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án ghi nhận được ý kiến của anh O như sau:

Về hôn nhân: Anh O thống nhất về thời điểm chung sống và đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Anh O thống nhất về mâu thuẫn gia đình, quá trình chung sống giữa anh O và chị H bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau. Anh O không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Về con chung: Có hai con chung là cháu Trần Thị Diệp A, sinh ngày 11-6-2018 và cháu Trân Danh Gia V, sinh ngày 17-8-2022. Khi ly hôn, anh O đồng ý giao 02 con chung cho chị H được trực tiêp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh O không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có tranh chấp nên anh O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Danh O tham gia phiên tòa nhưng anh O vắng mặt không lý do. Ngày 13 tháng 5 năm 2024, bị đơn anh Nguyễn Danh O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Quá trình chung sống chị H và anh O đã thống nhất và thừa nhận vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

[1] Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của chị H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, anh O có nơi tạm trú tại Đường D11, khu công nghiệp B, khu phố B, thị trấn U, huyện B, tỉnh D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng anh O vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt anh O theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh O tự nguyện kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2017, ngày 09 tháng 01 năm 2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh O là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị H yêu cầu ly hôn với anh O vì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ nhiều năm trước nhưng trầm trọng nhất năm 2023, chị H và anh O đã không sống chung với nhau. Các đương sự thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được biết: Trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh O có mâu thuẫn hay không thì chính quyền không nắm được. Hiện tại, chị H và anh O không còn sống chung. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh O là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh O có 02 con chung tên Trần Thị Diệp A, sinh ngày 11-6-2018 và cháu Trần Danh Gia V, sinh ngày 17-8-2022, chị H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, các con chung đang sống ổn định với chị H. Anh O đồng ý giao hai con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, tiếp tục giao 02 con chung là Trần Thị Diệp A, sinh ngày 11-6-2018 và cháu Trần Danh Gia V, sinh ngày 17-8-2022 cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu thành niên là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: trong đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2024, chị H không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, việc chị H không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi 02 con chung là tự nguyện và phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị H đối với anh O được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị H đối với bị đơn anh Trần Danh O về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
    • - Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị H và anh Trần Danh O.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Thị Diệp A, sinh ngày 11-6-2018 và cháu Trần Danh Gia V, sinh ngày 17-8-2022 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H không yêu cầu anh O cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Danh O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

  • - Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Trịnh Thị H và an Trần Danh O không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  1. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trịnh Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003456 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng;
  • - Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh D;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Hương - Trần Danh Oai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger