|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-4-2024 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thắng
Ông Nguyễn Tuấn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2023/TLST- HNGĐ ngày 27/12/2023 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1982
Nơi cư trú: Khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chị T1 và anh T1 đều có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Trần Thị Thu T trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện của mình như sau:
Chị và anh Đặng Văn T1 tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ vào ngày 11/02/2009. Sau ngày cưới, vợ chồng làm ăn sinh sống tại xã C, huyện Đ. Trong quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều quan điểm bất đồng, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi nhau. Ngoài ra, anh T1 còn thường xuyên giao lưu bạn bè, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị đã làm đơn ly hôn và cũng đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn tình cảm xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, không có hạnh phúc. Từ tháng 8/2023 đến nay, vợ chồng chị tuy ở chung nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị xác định không còn tình cảm với anh T1, không thể níu kéo, hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Chị và anh T1 có 02 con chung là cháu Đặng Trường G, sinh ngày 20/10/2009 và cháu Đặng Gia H, sinh ngày 04/12/2017. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Tuy nhiên, nếu anh T1 không đồng ý cho chị nuôi dưỡng cả hai con chung thì chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu H vì cháu còn nhỏ, cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Chị không yêu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Đặng Văn T1 trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống như chị T1 trình bày là đúng. Từ năm 2019, anh đã mở cửa hàng S nước gần nhà, vì công việc nên cũng hay phải giao lưu với khách hàng và có uống rượu về nhà vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Chị T1 cũng đã có lần làm đơn xin ly hôn sau đó rút đơn để vợ chồng tiếp tục chung sống nuôi dạy con chung. Tuy nhiên, tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện vì chị T1 luôn có thái độ lạnh nhạt với anh nên vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau. Thời gian gần đây, chị T1 có nhiều biểu hiện khác thường, làm ăn chung với người khác mà không bàn bạc với anh nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Anh thừa nhận, việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do một phần lỗi của bản thân anh và đã chủ động xin lỗi chị T1 nhưng chị T1 vẫn kiên quyết xin ly hôn. Đến nay, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị T1 nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị T1 có 02 con chung là cháu Đặng Trường G, sinh ngày 20/10/2009 và cháu Đặng Gia H, sinh ngày 04/12/2017. Nếu ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị T1 và anh T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình như đã trình bày. Mặt khác, anh T1 còn trình bày mặc dù chị T1 rút đơn ly hôn xin đoàn tụ nhưng vẫn lãnh nhạt với anh, không cho anh cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, anh vẫn xác định còn tình cảm với chị T1 và không đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn anh Đặng Văn T1.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Gia H, sinh ngày 04/12/2017. Giao cho anh Đặng Văn T1 được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Đặng Trường G, sinh ngày 20/10/2009. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Sau khi ly hôn, chị T1 và anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T1 và anh T1 không yêu cầu nên không phải giải quyết.
Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng dân sự:
Nguyên đơn là chị Trần Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn là anh Đặng Văn T1, nơi cư trú tại khu Đ, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu, ý kiến của đương sự:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu T và anh Đặng Văn T1 được UBND xã C đăng ký kết hôn trên cơ sở hai bên tự nguyện và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định pháp luật do vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, mặc dù ở chung nhà nhưng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Kết quả thu thập chứng cứ và lời trình bày của đương sự cho thấy hôn nhân giữa chị T1 và anh T1 đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nếu cứ tiếp tục ràng buộc cũng không có hạnh phúc mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị T1 xin ly hôn anh T1 là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Chị Trần Thị Thu T và anh Đặng Văn T1 đều xác nhận có hai con chung là cháu Đặng Trường G, sinh ngày 20/10/2009 và cháu Đặng Gia H, sinh ngày 04/12/2017. Sau khi ly hôn, chị T1 và anh T1 đều có nguyện vọng được trực tiếp hai con chung, thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con chung. Về điều kiện nuôi dưỡng con chung của chị T1 và anh T1 là như nhau vì đều có nơi ở, nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Hiện nay cháu H còn rất nhỏ cần, cháu G thể hiện nguyện vọng xin được ở với bố. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần giao cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, giao cho anh T1 trực tiếp nuôi cháu G là phù hợp quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T2 anh T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, vì vậy trong vụ án này không giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T1 và anh T1 không yêu cầu nên không đề cập phải giải quyết
[2.4] Về án phí: Chị T1 phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu T được ly hôn anh Đặng Văn T1.
- Về con chung:
Giao con chung là cháu Đặng Gia H, sinh ngày 04/12/2017 cho chị Trần Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Đặng Trường G, sinh ngày 20/10/2009 (Hiện con chung đang ở cùng với chị T và anh T) cho anh Đặng Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các con chung thành niên. Chị Trần Thị Thu T và anh Đặng Văn T1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không phải giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Thu T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số 0002118 ngày 27/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Chị T đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm ./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Duyên |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình