|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:17/2024/HS-ST
Ngày 11/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH
1. Tại điểm cầu trung tâm:
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Nguyễn Đức Nghị;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.
2. Có mặt tại điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an tỉnh P):
- Đại diện Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph: Ông Đỗ Hải L, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ph mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P; Điểm cầu thành phần, tại nhà tạm giam Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Không);
- Sinh ngày 26 tháng 03 năm 1955; tại: huyện L, tỉnh Hà Nam.
- Hộ khẩu thường trú: khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh;
- Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
- Con ông: Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Lê Thị T (đã chết).
- Vợ: Vũ Thị M, sinh năm: 1959;
- Con: có 02 con, con trai: Nguyễn Văn T1 (đã chết); con gái: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983;
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không;
- Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/03/2024. Nay đang tạm giam tại Nhà tạm giam - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
- Trần Hồng T2, sinh năm: 1974 (có mặt);
- Địa chỉ: Phố V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hà Thị Thùy L1, sinh năm 1985 (có mặt);
- Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
- Bà Vũ Thị M, sinh năm 1959 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Người chứng kiến:
- Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt);
- Địa chỉ: Khu M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 08/03/2024, tổ công tác Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã T, huyện T phát hiện, bắt quả tang 01 đối tượng có hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh Trần Hồng T2 là Hiệu trưởng Trường tiểu học T4 thuộc khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đối tượng tự khai họ tên là Nguyễn Văn N, sinh năm: 1955, thường trú: xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, thu giữ tại túi áo khoác bên phải của N đang mặc có tổng số tiền: 50.000.000đ, gồm 04 tập tiền Việt Nam, trong đó tập 01 gồm 10 tờ 500.000₫, 25 tờ 200.000đ; Tập 02 gồm 20 tờ 500.000₫; Tập 03 gồm 98 tờ 100.000đ, 01 tờ 200.000đ; Tập 04 gồm 100 tờ 200.000đ. N khai nhận đây là số tiền N chiếm đoạt được của anh Trần Hồng T2. Tổ công tác Công an huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: số tiền 50.000.000đ, 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 - 018.81, nhãn hiệu Honda - W, sơn màu đỏ, đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo - A83 màu đỏ, đen, góc phải màn hình bị vỡ mặt kính đã qua sử dụng bên trong lắp sim số: 0325303204 và dẫn giải Nhâm về trụ sở Công an huyện T để điều tra, làm rõ.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T Nhâm khai nhận trong năm học 2023, Nguyễn Văn N có tham khảo trên mạng xã hội để tìm hiểu về các khoản thu, chi đối với học sinh bậc tiểu học theo quy định của Bộ G (Gia đình Nguyễn Văn N có cháu nội theo học tại Trường tiểu học T4). Sau khi tham khảo, N cho rằng ngoài những khoản thu bắt buộc là học phí và bảo hiểm y tế thì anh Trần Hồng T2 là Hiệu trưởng Trường tiểu học T4 đã thu những khoản thu khác không đúng với quy định. Cụ thể có 08 khoản thu không đúng quy định, gồm: Quỹ phụ huynh là 100.000đ; Vận động tài trợ là 350.000đ trở lên; Sổ liên lạc điện tử là 60.000đ; Bảo vệ 90.000đ (năm học 2023 là 70.000đ); Vệ sinh 90.000đ (từ năm học 2023 là 125.000₫); Mua quần áo đồng phục (xuân hè và thu đông) khoảng 100.000đ; Tiền điện là 90.000đ; Mua thiết bị ti vi, phục vụ cho lớp học 400.000đ, khoản thu này được tính chia đều trên mỗi học sinh của trường trong năm học và thu thường niên các năm học từ năm học 2019 đến nay. Ngoài ra, còn thêm 02 khoản thu là quỹ học sinh và quỹ lớp, mỗi khoản thu số tiền 100.000đ. Riêng năm học 2020 - 2021, anh T2 còn đưa ra khoản thu số tiền 500.000đ/01 em học sinh để làm nhà vòm mái tôn cho trường.
Đến đầu tháng 11/2023, Nguyễn Văn N đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo - A83, nhắn tin qua Zalo đăng kí bằng số điện thoại: 0325.303.xxx đứng tên Nguyễn Văn N điện cho anh Trần Hồng T2 với nội dung: Anh T2 lợi dụng chức vụ Hiệu trưởng để thu sai các khoản thu của học sinh trong năm học mới mà không sử dụng đúng mục đích và chiếm đoạt số tiền của học sinh đóng góp. Ngoài ra, N còn nói có một số phụ huynh học sinh đã làm đơn và nhờ N đứng đơn kiện anh T2. Thực tế không có phụ huynh nào làm đơn hay nhờ N đứng đơn kiện anh T2.
Nhâm đã nhắn tin, gọi điện yêu cầu anh T2 đưa 100.000.000đ thì N sẽ giải thích với các phụ huynh và không làm đơn kiện anh T2 nữa. Sau nhiều lần liên lạc với anh T2 không được, N đã gọi điện và nhắn tin cho chị Hà Thị Thùy L1 là kế toán của trường tiểu học T4 yêu cầu chị L1 tác động đến anh T2 yêu cầu nghe máy, nếu chị L1 không làm theo thì khi anh T2 bị xử lý chị L1 cũng sẽ bị ảnh hưởng. Do lo sợ ảnh hưởng đến danh dự của bản thân và nhà trường cũng như công việc hiện tại, nên ngày 29/01/2024 và ngày 01/02/2024 anh T2 đã chuyển khoản cho N 02 lần, mỗi lần chuyển số tiền là 5.000.000đ, tổng là 10.000.000₫ từ số tài khoản 270215004774 Ngân hàng A mang tên Trần Hồng T2 đến số tài khoản 0325303204 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) mang tên Nguyễn Văn N. Số tiền còn lại anh T2 hẹn sau Tết Nguyên Đán năm 2024 sẽ đưa tiếp. Tuy nhiên, sau Tết Nguyên Đ1, thấy anh T2 không thực hiện như lời hứa hẹn, nên N tiếp tục nhắn tin đe dọa anh T2, nếu không đưa số tiền còn lại, sẽ gửi đơn kiện anh T2 lên các cấp trên.
Sau đó, N tiếp tục yêu cầu anh T2 đưa nốt số tiền còn lại là 90.000.000đ, anh T2 đồng ý và hẹn địa điểm là phòng làm việc của anh T2 tại Trường Tiểu học T4. Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 08/03/2024, N đi xe môtô BKS: 19D1-018.81, nhãn hiệu H2, sơn màu đỏ, đen từ nhà đến Trường tiểu học T4 như đã hẹn. Tại phòng làm việc của anh T2, N gặp anh T2 và chị Phạm Thị Đ là kế toán của trường. Anh T2 đưa cho N một bọc giấy, khi mở ra có 04 tập tiền bên trong với nhiều mệnh giá khác nhau, anh T2 nói số tiền là 50.000.000đ, N nói sẽ nhận số tiền trên để nói chuyện với các phụ huynh học sinh, nếu họ đồng ý với số tiền này thì sẽ bỏ qua cho anh T2, nếu họ không đồng ý, anh T2 sẽ phải đưa tiếp số tiền còn lại cho N. Sau khi nhận được số tiền trên, N gói lại bọc tiền và đúc vào túi áo khoác bên phải đang mặc, khi định đi ra về thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt giữ.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn N. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật tài sản gì.
Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và nhất trí với Bản cáo trạng, không có ý kiến gì khác.
2. Về các vấn đề khác của vụ án:
Ngày 08/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra quyết định số 78/QĐ-CSĐT Quyết định tạm giữ tài sản gồm: Tiền Việt Nam đồng 50.000.000đ; 01 chiếc điện thoại Oppo A83 góc trên bên phải màn hình bị vỡ gắn sim số 0325303204; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu đỏ, đen, BKS:19D1 – 01881.
Ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (nay viết tắt là BLHS năm 2015).
Ngày 10/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T có công văn số 66/CSĐT đề nghị Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cung cấp thông tin chủ tài khoản 0325303204 và sao kê việc chuyển và nhận tiền trong ngày 29/01/2024 và ngà y 01/02/2024 của số tài khoản nêu trên. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q xác nhận số tài khoản nêu trên là của Nguyễn Văn N, vào 2 ngày là 29/01/2024 và 01/02/2024 đã nhận tiền từ tài khoản của anh Trần Hồng T2 chuyển vào là 10.000.000đ, mỗi lần 5.000.000₫
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các vấn đề nêu trên
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
- Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS- TS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 170 của BLHS năm 2015.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, Điều 54 BLHS năm 2015.
- + Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn N từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 08 tháng 3 năm 2024).
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Văn N.
- + Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận, ngày 01/06/2024, anh Nguyễn Ngọc T3 là con ruột của Bị cáo đã trả lại cho anh Trần Hồng T2 số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Tại phiên tòa anh T2 không có yêu cầu gì khác;
- + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Trả lại cho Bị cáo 01 xe mô tô Honda wave rsx màu đỏ đen BKS 19D1- 018.81 đã qua sử dụng .
- - Đối 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A83, sim điện thoại số 0325.303.xxx được lắp trong điện thoại, đây là phương tiện công cụ phạm tội nên cần tịch thu bán sung vào ngân sách nhà nước
- + Về án phí: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đối với hành vi nhắn tin, gọi điện đến chị Hà Thị Thùy L1 là kế toán trường tiểu học T4 yêu cầu chị L1 tác động đến anh T2 đưa tiền. Quá trình điều tra đã làm rõ Bị cáo không có ý định chiếm đoạt tiền chủa chị L1 mà chỉ liên lạc qua chị L1 để chị L1 nói với anh T2 chuyển tiền cho mình, nên không đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản đối với chị L1.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
5. Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà hôm nay Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản lấy lời khai, Biên bản khám xét và Biên bản niêm phong vật chứng, đồng thời phù hợp với lời khai của Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Bằng hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, cho rằng anh Trần Hồng T2 đã thu sai một số khoản thu của học sinh từ năm 2019. Nguyễn Văn N đã yêu cầu anh T2 phải chuyển cho mình 100.000.000đ. Sau đó, vào các ngày 29/01/2024 và ngày 01/02/2024 anh T2 đã chuyển tiền bằng hình thức chuyển khoản thông qua số tài khoản 0325303204 ngân hàng Q mang tên NGUYEN VAN NHAM cho bị cáo N 2 lần mỗi lần 5.000.000đ tổng số tiền bị cáo N chiếm đoạt sau 2 lần chuyển là 10.000.000đ. Đến ngày 08/03/2024 Bị cáo N tiếp tục chiếm đoạt số tiền là 50.000.000đ. Tổng số tiền bị cáo N đã chiếm đoạt của anh T2 là 60.000.000₫
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 của BLHS năm 2015.
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
“1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 đến 10 năm:
d, Chiếm đoạt tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Mặt khác gây mất trật tự trị an xã hội và bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Bị cáo đã nhiều lần nhắn tin, gọi điện đe dọa và uy hiếp tình thần của bị hại để buộc bị hại giao tài sản cho mình. Bị cáo đã thực hiện hành vi nhiều lần với tổng số tiền chiếm đoạt là 60.000.000đ. Do đó cần xử lý nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; ngày 1/6/2024 bị cáo đã tác động đến gia đình để con trai là anh Nguyễn Ngọc T3 khắc phục trả lại cho anh Trần Hồng T2 số tiền 10.000.000đ bị cáo đã chiếm đoạt được vào ngày 29/01/2024 và ngày 01/02/2024; ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn H được nhà nước tặng kỷ niêm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày vào năm 2004; Bị cáo đã tham gia nghĩa vụ quân sự từ 1978 đến năm 1983; bị hại cũng đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo. Do đó, Bị cáo được hưởng 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của Bị cáo là rất nghiêm trọng, vì mục đích tư lợi mà cố tình thực hiện hành vi, bất chấp hậu quả xấu gây ra cho xã hội. Do vậy áp dụng khoản 1 Điều 38 xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là phù hợp. Tuy nhiên, Bị cáo là người cao tuổi và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ do vậy áp dụng Điều 54 BLHS cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự và cũng phù hợp với mức thấp theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 170 BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản ".
Tại biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị, đang sống chung với gia đình trong căn nhà cấp 4 có điện tích 80m2, trong tổng số diện tích đất ở và đất vườn là 2732 m2, với mức thu nhập bình quân là 26.800.000đ/người/năm, Bị cáo không có tài sản gì riêng. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận anh Trần Hồng T2 đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt là 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng) nay không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô wave honda rsx màu đỏ đen BKS 19D1-01881 là công cụ phương tiện dùng vào mục đích phạm tội lẽ ra cần tịch thu sung vào quỹ nhà nước. Nhưng tại biên bản xác minh và tại phiên tòa hôm nay thấy rằng chiếc xe mô tô nêu trên là tài chung của gia đình cũng là phương tiện duy nhất của gia đình để làm phương tiện đi lại làm ăn hàng ngày, khi Bị cáo phạm tội gia đình cũng không ai biết, nên trả lại cho Bị cáo là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại Oppo A83 gắn sim điện thoại số 0325.303.xxx là công cụ phương tiện dùng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước là phù hợp;
[6] Các vấn đề khác của vụ án:
Đối với hành vi nhắn tin, gọi điện cho chị Hà Thị Thùy L1 là kế toán trường tiểu học T4 yêu cầu chị L1 tác động đến anh T2 đưa tiền. Quá trình điều tra đã làm rõ Bị cáo không có ý định chiếm đoạt tiền của chị L1 mà chỉ liên lạc qua chị L1 với mục đích để chị L1 nói với anh T2 chuyển tiền cho mình, nên không đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản đối với chị L1. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
- Căn cứ khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015.
- Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn N 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ (ngày 08 tháng 3 năm 2024).
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Văn N.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tich thu 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A83 màu đỏ đen góc trên bên phải màn hình bị vỡ bán sung quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu để tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0325.303.xxx.
- - Trả lại 01 xe mô tô hiệu honda Wave rsx màu đỏ đen BKS: 19D1-01881.
Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 28/6/2024.
4. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự xác nhận con trai bị cáo đã bồi thường cho anh Trần Hồng T2, anh T2 đã nhận đủ số tiền Bị cáo cưỡng đoạt tổng là 60.000.000đ( Sáu mươi triệu động) nay anh T2 không yêu cầu Bị cáo bồi thường thêm gì.
5. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Côn |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Văn N - Cưỡng đoạt tài sản
