Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST.

Ngày: 11 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Lê Hồng Điệp.
  • Ông Thạch Thanh Tâm.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Cao Trương Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Thị B, sinh ngày 01/01/1960; nơi sinh: Tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S (chết) và bà Khưu Thị M (chết); có chồng là Trần Văn Đ, sinh năm 1956 và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1979 và nhỏ nhất sinh năm 1989; chị em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1953 và nhỏ nhất sinh năm 1972; tiền án: Không; tiền sự: 01. Tại Quyết định số 45/QĐ-XPHC ngày 07/9/2022 Trương Thị B bị Công an thị trấn L, huyện L xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài tứ sắc được, thua bằng tiền”, chưa chấp hành Quyết định; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 3 năm 2024 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Võ Phương H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Ấp C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Bà Diệp Bích H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  3. Ông Trần Minh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Bà Châu Thị Á, sinh năm 1958; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Châu Minh H2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  4. Bà Trần Thị Lệ H3, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  5. Bà Châu Kim H4, sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 17 giờ 55 phút ngày 20/12/2023, tại khu vực chòi (chuồng heo) bỏ hoang trên phần đất của bà Châu Thị Á thuộc ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, Công an huyện L tiến hành kiểm tra bắt quả tang hành vi đánh bạc với hình thức chơi lắc bầu cua, được thua bằng tiền gồm: Trương Thị B, Võ Phương H, Diệp Bích H1, đối với Trần Minh T đã bỏ chạy nhưng sau đó Công an huyện L đã tiến hành mời T làm việc. Vào thời điểm bị bắt quả tang Trương Thị B làm cái, còn Võ Phương H, Diệp Bích H1, Trần Minh T là những người đặt tiền. Bị cáo Trương Thị B và các đối tượng bị bắt quả tang với số tiền dùng vào mục đích đánh bạc tại chiếu bạc là 1.200.000 đồng, số tiền thu giữ trên người bị cáo và Võ Phương H, Diệp Bích H1 khai nhận dùng vào mục đích đánh bạc là 2.501.000 đồng. Bị cáo Trương Thị B và Võ Phương H, Diệp Bích H1, Trần Minh T khai nhận cụ thể như sau:

Trương Thị B mang theo 2.400.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người 2.320.000 đồng, tại ván bạc bị bắt quả tang thì B là tụ cái.

Diệp Bích H1 mang theo 306.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ trên người 176.000 đồng, tại ván bạc bị bắt quả tang thì H1 tham gia tụ đặt.

Võ Phương H mang theo 2.505.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt quả tang bỏ lại 980.000 đồng trên chiếu bạc và thu giữ trên người 5.000 đồng, tại ván bạc bị bắt quả tang H tham gia tụ đặt.

Đối với Trần Minh T không thừa nhận có tham gia đánh bạc.

Quá trình bắt quả tang đã thu giữ được vật chứng: 03 (ba) tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu và đều có bọc nylon trong bên ngoài; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 26cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu hồng cam, đã qua sử dụng; 33 (ba mươi ba) hột bầu cua, mỗi hột có 06 mặt có in tôm, cua, cá, gà, nai và bầu; 01 (một) cái hộp nhựa trong, có nắp đậy trong màu xanh nước biển, kích thước (16 x 10,8)cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái hộp nhựa trong có nắp đậy màu xanh da trời, kích thước (8,8 x6,3)cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu làm bằng lát, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 3.701.000 đồng (thu giữ tại chiếu bạc là 1.200.000 đồng, thu giữ trên người của Trương Thị B 2.320.000 đồng, Võ Phương H 5.000 đồng, Diệp Bích H1 176.000 đồng).

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSLP ngày 20/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng để xét xử Trương Thị B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Thị B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Diệp Bích H1 và ông Võ Phương H thống nhất theo lời khai của bị cáo tại tòa và không có yêu cầu gì.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trương Thị B đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Bởi vì, bị cáo Trương Thị B đã có tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng chưa chấp hành xong việc nộp phạt, bị cáo muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên vào lúc 17 giờ 55 phút ngày 20/12/2023, tại khu vực chòi bỏ hoang trên phần đất nhà của bà Châu Thị Á, tại ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo đã cùng với T, H, H1 có hành vi cùng nhau đánh bạc với hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền với tổng số tiền dung vào mục đích đánh bạc là 3.701.000 đồng. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, nếp sống văn minh tại địa phương. Trên cơ sở đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Thị B phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trương Thị B từ 03 tháng đến 05 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu và đều có bọc nylon trong bên ngoài; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 26cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu hồng cam, đã qua sử dụng; 33 (ba mươi ba) hột bầu cua, mỗi hột có 06 mặt có in tôm, cua, cá, gà, nai và bầu; 01 (một) cái hộp nhựa trong, có nắp đậy trong màu xanh nước biển, kích thước (16 x 10,8)cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái hộp nhựa trong có nắp đậy màu xanh da trời, kích thước (8,8 x6,3)cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu làm bằng lát, đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 3.520.000 đồng. Đối với số tiền dùng vào mục đích đánh bạc đã thu giữ trên người của Diệp Bích H1 là 176.000 đồng, Võ Phương H là 5.000 đồng đã được Công an huyện L xử lý trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H1 và H nên không đặt ra xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trương Thị B: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện L, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Theo Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Châu Kim H4 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định bà Châu Kim H4 không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của bà Châu Kim H4 là người làm chứng trong vụ án.

[3] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Minh T và người làm chứng Trần Thị Lệ H3 không lý do. Xét sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ vào các điều 292, 293 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[4] Tại phiên toà, bị cáo Trương Thị B khai nhận:

Vào lúc 17 giờ 55 phút ngày 20/12/2023, tại khu vực chòi bỏ hoang trên phần đất của bà Châu Thị Á thuộc ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, khi bị cáo Trương Thị B cùng với Võ Phương H, Diệp Bích H1, Trân Minh T đang tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc bầu cua được ăn thua bằng tiền thì bị Công an huyện L bắt quả tang và tiến hành thu giữ các tang vật gồm: 03 (ba) tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu và đều có bọc nylon trong bên ngoài; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 26cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu hồng cam, đã qua sử dụng; 33 (ba mươi ba) hột bầu cua, mỗi hột có 06 mặt có in tôm, cua, cá, gà, nai và bầu; 01 (một) cái hộp nhựa trong, có nắp đậy trong màu xanh nước biển, kích thước (16 x 10,8)cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái hộp nhựa trong có nắp đậy màu xanh da trời, kích thước (8,8 x6,3)cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu làm bằng lát, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 3.701.000 đồng (thu giữ tại chiếu bạc là 1.200.000 đồng, thu giữ trên người của Trương Thị B 2.320.000 đồng, Võ Phương H 5.000 đồng, Diệp Bích H1 176.000 đồng).

Bị cáo Trương Thị B khẳng định tại thời điểm bị bắt quả tang lúc 17 giờ 55 phút ngày 20/12/2023 thì bị cáo B làm nhà cái và chỉ có bị cáo cùng Diệp Bích H1, Võ Phương H và Trần Minh T cùng nhau đánh bạc, không có ai khác tham gia, khi bị bắt quả tang chỉ có T chạy thoát.

Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi nhận sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan Điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó, có căn cứ chứng minh tổng số tiền mà bị cáo Trương Thị B dùng vào mục đích đánh bạc là 3.701.000 đồng.

[5] Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo:

Bị cáo Trương Thị B đã có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài tứ sắc được, thua bằng tiền”, chưa chấp hành Quyết định, bị cáo chưa đủ thời gian để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, bị cáo đã nhận thức rõ hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau, tạo thu nhập bất hợp pháp là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện và số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 3.701.000 đồng. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng số 22/CT-VKSLP, ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Trương Thị B về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh tại địa phương, là ẩn hoạ của nhiều loại tội phạm khác và xâm hại đến chế độ quản lý nhà nước về trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[6] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo nhận thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo chưa có tiền án; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là phụ nữ và là người cao tuổi (64 tuổi) và trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

[7] Từ những căn cứ đã phân tích nêu trên: Xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về tội danh, khung hình phạt và các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trương Thị B là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặt dù, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đủ điều kiện để có thể xem xét áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đồng thời qua tranh tụng tại phiên tòa bị cáo còn khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo còn tham gia cùng những người khác thực hiện hành vi đánh bạc trái phép đang bị cơ quan chức năng xem xét. Vì vậy, việc áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo không có tác dụng răng đe để phòng ngừa tội phạm, nhằm để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Thị B.

[8] Đối với hành vi của Diệp Bích H1, Võ Phương H, Trần Minh T, cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền cùng với bị cáo Trương Thị B và Châu Kim H4 mang theo tiền chuẩn bị đánh bạc thì bị phát hiện; đồng thời H1, H, T và H4 chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối với H1, H, T, H4 và xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

[9] Về xử lý vật chứng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án ân sự huyện Long Phú): Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L đã thu giữ và chưa xử lý các vật chứng vụ án gồm:

03 (ba) tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu và đều có bọc nylon trong bên ngoài; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 26cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa băng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa màu hồng cam, đã qua sử dụng; 33 (ba mươi ba) hột bầu cua, mỗi hột có 06 mặt có in tôm, cua, cá, gà, nai và bầu; 01 (một) cái hộp nhựa trong, có nắp đậy trong màu xanh nước biển, kích thước (16 x 10,8)cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái hộp nhựa trong có nắp đậy màu xanh da trời, kích thước (8,8 x6,3)cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu làm bằng lát, đã qua sử dụng. Xét thấy, các vật chứng nêu trên là công cụ phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người của bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc tại thời điểm bắt quả tang, cụ thể: Thu trên chiếu bạc là 1.200.000 đồng; thu trên người của bị cáo là 2.320.000 đồng. Xét thấy, các số tiền trên bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền thu giữ trên người của Diệp Bích H1 là 176.000 đồng và Võ Phương H là 5.000 đồng đã được Công an huyện L xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC ngày 01/4/2024 đối với Diệp Bích H1 và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40/QĐ-XPHC ngày 01/4/2024 đối với Võ Phương H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 38; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trương Thị B.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Thị B phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Phạt bị cáo Trương Thị B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 03 (ba) tờ giấy có in hình tôm, cua, cá, gà, nai, bầu và đều có bọc nylon trong bên ngoài; 01 (một) cái đĩa, bằng kim loại, đường kính 26cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa, bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái đĩa, bằng kim loại, đường kính 24,9cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa, màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái thau bằng nhựa, màu hồng cam, đã qua sử dụng; 33 (ba mươi ba) hột bầu cua, mỗi hột có 06 mặt có in tôm, cua, cá, gà, nai và bầu; 01 (một) cái hộp nhựa trong, có nắp đậy trong màu xanh nước biển, kích thước (16 x 10,8)cm đã qua sử dụng; 01 (một) cái hộp nhựa trong có nắp đậy màu xanh da trời, kích thước (8,8 x6,3)cm đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chiếu làm bằng lát, đã qua sử dụng.

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền thu trên chiếu bạc là 1.200.000 và thu trên người của bị cáo Trương Thị B là 2.320.000 đồng.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Thị B là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trần Minh T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tông đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - CQĐT CA huyện Long Phú;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Long Phú;
  • - Cơ quan HSNV CA huyện Long Phú;
  • - Đội ĐTTH CA huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Long Phú;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (PKTNV&THA);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Thị B bị VKS nhân dân huyện Long Phú truy tố về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger