|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 17/2024/DS-ST Ngày: 11-6-2024 V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hoà
- Bà Trương Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu- Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 và 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2022/TLST- DS ngày 04 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Tô Văn Đ, sinh năm 2000
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Tô Văn Đ: Ông Trương Công S, sinh năm 1982; Địa chỉ: H P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; theo giấy uỷ quyền ngày 08/4/2022;
Bị đơn:
- Ông Trần Văn C, sinh năm 1985
- Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1988
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn C1, sinh năm 1955
- Bà Võ Thị T, sinh năm 1956
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Lâm Quang M, sinh năm 1965
- Bà Lê Thị Minh T1, sinh năm 1973
Cùng địa chỉ: thôn 3, xã Liên Đầm, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10/3/2022, đơn khởi kiện bổ sung, tại bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Tô Văn Đ là ông Trương Công S trình bày:
Thửa đất số 913, tờ bản đồ số 22 phường P, thị xã Đ do ông Tô Văn Đ đứng tên nguyên trước đây là thuộc một phần của thửa đất số 293, tờ bản đồ số 22, phường P diện tích 2.320m² của vợ chồng ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T. Ngày 30/06/2015, vợ chồng ông C1 chuyển nhượng thửa đất số 913 cho vợ chồng ông Lâm Quang M, bà Lê Thị Minh T1. Sau đó đến ngày 18/09/2018, ông Tô Văn Đ đã mua lại thửa đất số 913 từ vợ chồng ông M, bà T1. Việc mua bán giữa ông Đ với ông M, bà T1 thực hiện trên giấy tờ, diện tích theo giấy chứng nhận, hai bên không có đo đạc diện tích chuyển nhượng. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất này, chiều rộng phía trước và phía sau thửa đất là 10 m, chiều dài phía Nam giáp với mương 31,5 m, chiều dài phía bắc giáp với thửa đất của ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V là 35,4 m.
Thửa đất số 918 tờ bản đồ số 22 do ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V đứng tên trước đây cũng là một phần thửa đất 293 của ông C1, bà T. Năm 2014 ông C1, bà T tách thành hai thửa đất 913, 914. Ông C1, bà T bán cho ông M, bà T1 thửa đất 913. Sau đó ông C1, bà T tách tiếp thửa đất 914 thành hai thửa đất 917 và 918, phần thửa đất 918 liền kề với thửa đất 913, ông C1, bà T đã bán cho vợ chồng ông C, bà V năm 2016.
Sau khi ông C, bà V nhận chuyển nhượng thửa đất số 918 đã làm nhà, đến năm 2020 làm hàng rào B40 lấn qua đất của ông Đ khoảng 3m ngang. Ông Đ đã nhiều lần yêu cầu ông C, bà V phải tháo dỡ hàng rào, vật kiến trúc trên phần đất đã lấn nhưng không Cần không đồng ý.
Do vậy ông Đ yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông C, bà V phải tháo dỡ hàng rào B40, mái hiên nhà tạm để trả lại phần đất đã lấn chiếm, theo đơn kiện ông yêu cầu khoảng 100 m². Qua kiểm tra hiện trạng với ranh giới đã được cấp theo giấy chứng nhận tại thửa đất số 913, chiều ngang phía Đông còn thiếu 2,95m, chiều ngang phía Tây còn thiếu 2,35m. Nay ông Đ yêu cầu ông C, bà V
2
phải tháo dỡ hàng rào B40, cây cối, công trình trên đất để trả lại phần đất đã làm không đúng với ranh giới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích theo đo đạc thực tế là 93,6 m².
Trong quá trình giải quyết vụ án tại biên bản lấy lời khai, theo các tài liệu trong hồ sơ, bị đơn ông Trần Văn C trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 918 tờ bản đồ số 22 phường P là do vợ chồng ông C đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T vào năm 2016, kích thước chiều ngang mặt tiền đường 12 m, phía Bắc giáp thửa đất số 917, phía Nam giáp thửa đất số 913.
Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, thửa đất này là thửa đất trống. Phía Nam thửa đất có hàng trụ bê tông do chủ đất bên cạnh phía Nam dựng. Khi nhận đất vợ chồng ông và vợ chồng ông C1 có đo đạc, xác định chiều dài, chiều rộng thửa đất và ranh mốc giới của thửa đất số 918, đo đủ 12 m mặt tiền tính từ trụ mốc thửa đất bên cạnh nhưng không có sự tham gia của chủ đất phía Nam liền kề.
Tháng 6 năm 2018 ông C, bà V bắt đầu xây dựng nhà và công trình kiến trúc trên đất. Vợ chồng ông làm nhà đúng diện tích mà ông C1 đã bán.
Tháng 9/2018, ông Đ mới nhận chuyển nhượng thửa đất liền kề phía Nam thửa đất của vợ chồng ông, sau khi ông Đ nhận chuyển nhượng, ông Đ mới tháo dỡ hàng trụ mốc giới trên đất và đổ mặt bằng. Nay ông Đ yêu cầu vợ chồng ông phải trả lại 100 m² có phần mái hiên nhà cấp IV, ông không đồng ý vì vợ chồng ông nhận chuyển nhượng hợp pháp và có xác định ranh mốc giới. Việc ông Đ thiếu đất thì ông Đ giải quyết với người đã chuyển nhượng cho ông Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Kim V đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T trình bày:
Ông C1, bà T là chủ sử dụng thửa đất số 293, tờ bản đồ số 22 phường P diện tích 2320 m². Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng ông xác định trong thửa đất số 293 bao gồm đường đi, nay là mương nước, nên khi vợ chồng ông chuyển nhượng cho vợ chồng ông Lâm Quang M, bà Lê Thị Minh T1 thửa đất số 913, ông Chính xác đ chuyển nhượng 10 m ngang trong đó bao gồm cả phần đường đi (nay là mương nước).
Tại hồ sơ thể hiện vị trí phía Nam thửa 293 là đường đi thì ông không rõ lý do. Đường đi là trong vườn của ông C1, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc quyền sử hữu của vợ chồng ông.
Khi nhà nước cấp giấy chứng nhận trên sơ đồ thể hiện phía Nam thửa đất giáp mương, ông bà không có khiếu nại.
Tại thời điểm chuyển nhượng cho ông M, bà T1, các bên đã xác định ranh mốc giới, có trồng hàng trụ bê tông, có chứng kiến của trưởng thôn và địa chính. Sau đó ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V nhận thửa đất liền kề, tính từ hàng
3
trụ bê tông ranh giới đủ 12 m ngang. Còn ông Tô Văn Đ nhận chuyển nhượng sau thiếu đất, ông Đ tự xác định, làm rõ với ông M, bà T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, theo tài liệu có trong hồ sơ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lâm Quang M, bà Lê Thị Minh T1 trình bày:
Ông bà mua đất của ông C1, bà T tại thửa đất số 913 tờ bản đồ số 22 phường P. Ông bà nhận chuyển nhượng theo giấy chứng nhận đã cấp tại thửa đất 913 tờ bản đồ số 22 phường P. Khi nhận chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C1, bà T, không đo đạc diện tích. Ngày 18/9/2018 ông bà đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông Tô Văn Đ. Khi chuyển nhượng các bên cũng không đo đạc lại diện tích mà chuyển nhượng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Ông bà không còn liên quan đến thửa đất này vì ông bà đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông Đ.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:.
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 115, 164, 165, 166, 186, 189, 192 Bộ luật dân sự 2015, Điều 95, 97, 166, 168 Luật đất đai, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải tháo dỡ hàng rào B40, cây cối và công trình trên đất, trả lại cho ông Tô Văn Đ 93,6 m² đất đã lấn chiếm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Tô Văn Đ khởi kiện tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất với bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V tại thửa đất toạ lạc tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T, ông Lâm Quang M, bà Lê Thị Minh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông C, bà V, ông C1, bà T, ông M và bà T1.
4
[3] Về nội dung:
Về nguồn gốc đất:
Thửa đất số 913 tờ bản đồ số 22 phường P, thị xã Đ, diện tích 340 m² được tách ra từ thửa đất 293, tờ bản đồ số 22 phường P diện tích 2320 m² của ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T. Quá trình sử dụng đất năm 2014, ông C1, bà T tách thửa đất số 293 thành hai thửa đất 913 và 914; sau đó đến năm 2016 tiếp tục tách thửa đất số 914 thành hai thửa 917 và 918. Ngày 30/6/2015 ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T chuyển nhượng thửa đất số 913 cho ông Lâm Quang M, bà Lê Thị Minh T1. Đến ngày 18/9/2018 ông M, bà T1 đã chuyển nhượng thửa đất số 913 cho ông Tô Văn Đ.
Đối với thửa đất số 918 hiện tại ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V đang sử dụng là do ông C, bà V nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn C1, bà Võ Thị T vào ngày 19/5/2016.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại 93,6 m² đất mà ông C, bà V đã lấn chiếm, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hiện trạng thửa đất số 913 diện tích là 263,6 m², giảm so với diện tích 340m² ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn trình bày nguyên nhân là do phía ông C, bà V đã xây dựng phần mái hiên, trồng cây và làm hàng rào B40 sang đất của ông Đ với diện tích 93,6 m².
Theo ông C, bà V thì việc ông Đ thiếu đất thì tự giải quyết với người bán vì khi ông C làm nhà là theo sự chỉ dẫn của người bán, ông C, bà V sử dụng trên phần diện tích đất mà ông C1, bà T đã chuyển nhượng và chỉ vị trí đất.
Về phía ông C1, bà T trình bày ông Đ thiếu đất thì tự giải quyết với người bán, còn ông đã bán đủ 10 m ngang cho ông M, bà T1 tại thửa đất 913, trong 10 m ngang có 3m là đường (nay là mương nước), diện tích mương nằm trong diện tích đã bán cho ông M, bà T1. Còn phần đất của ông C, vợ chồng ông đã chỉ đủ 12 m ngang tính từ ranh giới đã bán cho ông M, bà T1.
Theo hồ sơ địa chính qua các thời kỳ, xem xét các biến động của thửa đất số 293, tờ bản đồ số 22 phường P trước và sau khi tách thành 3 thửa đất 913, 918, 917 thì phần đường (nay là mương nước) nằm ngoài 3 thửa đất này, vị trí mương nước giáp với cạnh phía Nam của thửa 913.
Qua xem xét, đo đạc hiện trạng 3 thửa đất:
Thửa đất số 913 do ông Đ đang sử dụng, diện tích đo đạc thực tế hiện trạng 263,6 m², diện tích giảm 76,4m² so với diện tích trong giấy chứng nhận, trong đó cạnh phía Đông dài 7,05m, cạnh phía Tây dài 7,34 m, cạnh Đ1 và cạnh T2 đều thiếu khoảng 3 m so với giấy chứng nhận. Cạnh phía Nam giáp mương. Cạnh phía Bắc giáp phần đất đang tranh chấp với ông C, bà V.
Thửa đất số 917 do ông C1, bà T đang sử dụng, diện tích thực tế 1787,4 m², diện tích tăng 233,4 m², trong đó cạnh phía Đông dài (15,68 + 6,14 + 24,92) m tăng 3,74 m so với giấy chứng nhận (43 m), cạnh phía Tây dài (7,48+ 6,04 + 31,64) m tăng 2,66m so với giấy chứng nhận (42,5m).
5
Thửa đất số 918 do ông C, bà V đang sử dụng, diện tích 429,5 m², tăng 3,5 m², ở giữa hai thửa đất 913 và 917, cạnh Đ1 và cạnh Tây dài khoảng 12m.
Theo sơ đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 913 có giới cận phía Nam giáp đường (nay là mương nước), phía Bắc giáp thửa đất số 918, chiều ngang mặt tiền phía trước (cạnh Đ1) và chiều ngang phía sau (cạnh T2) là 10m. Qua đối chiếu với bản đồ địa chính, bản đồ cấp giấy chứng nhận và hiện trạng thửa đất số 913, vị trí phần đất ông Đ đang đòi ông C, bà V phải trả lại, diện tích 93,6 m² với chiều ngang phía Đông 2,95m, chiều ngang phía Tây 2,35 m, chiều dài hết đất, thuộc về thửa đất 913. Hiện tại trên phần đất này ông C, bà V đang sử dụng trồng cây, làm mái hiên, hàng rào B40 và một số công trình phụ khác.
Về phía ông C1 khai diện tích đã chuyển nhượng cho ông M, bà T1 tại thửa đất số 913 bao gồm cả 3m mương nước nhưng ông C1 không có chứng cứ chứng minh.
Về phía ông C khai xây dựng nhà theo sự chỉ dẫn của ông C1, bà T và phần hiện trạng của ông sử dụng là 12m ngang. Tuy nhiên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C, bà V với ông C1, bà T là chuyển nhượng thửa đất 918, giới cận phía Nam giáp thửa đất số 913, phía Bắc giáp thửa đất số 917. Do đó khi xây dựng công trình trên đất, đáng lẽ ông C, bà V phải kiểm tra lại vị trí diện tích mình được chuyển nhượng nhưng ông C, bà V thực hiện không đầy đủ, khi xây dựng hàng rào B40, làm mái hiên cũng không có chủ đất liền kề phía Nam tại thửa đất 913. Vì vậy đã sử dụng đất không đúng vị trí của thửa đất số 918, dẫn đến việc xây dựng công trình kiến trúc và trồng cây xâm phạm sang diện tích đất tại thửa đất số 913 mà hiện tại thửa đất này do ông Đ làm chủ.
Do đó ông Đ yêu cầu ông C, bà V phải tháo dỡ hàng rào B40, cây cối, công trình trên đất để trả lại 93,6 m² đất đã lấn chiếm là có cơ sở phù hợp với quy định tại Điều 164, 189, 192 Bộ luật dân sự và Điều 97, 166 Luật đất đai nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trường hợp ông C, bà V có tranh chấp với ông C1, bà T về diện tích được nhận chuyển nhượng thì được quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 1.800.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng, đã chi phí xong, bị đơn không được chấp nhận yêu cầu nên phải chịu chi phí này; ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải hoàn trả cho ông Tô Văn Đ 6.800.000 đồng chi phí này.
[4] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải chịu: 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, 273 và 275 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 164, 189, 192 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 97, 166 Luật đất đai;
- Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải trả lại 93,6 m² đất đã lấn chiếm. Buộc bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải tháo dỡ hàng rào lưới B40, cây cối và công trình trên đất để trả lại 93,6 m² đất đã lấn chiếm, tại các điểm mốc (5,7,8,2,3,4,5), vị trí:
Phía Bắc giáp thửa đất số 918, tờ bản đồ số 22 phường P, thị xã Đ
Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất số 913, tờ bản đồ số 22 phường Phổ Ninh, thị xã Đức Phổ
Phía Đông giáp đường dài 2,95 m
Phía Tây giáp mương dài 2,35 m
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án)
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc là 5.000.000 đồng, chi phí định giá tài sản là 1.800.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng, đã chi phí xong, ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải hoàn trả cho ông Tô Văn Đ 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng.
Về án phí: Bị đơn ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn 375.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai tạm ứng án phí số 0002188 ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
7
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Hồng Mỹ |
8
9
Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 17/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ong c phải tháo dỡ cây trồng để trả lại đất cho nguyên đơn
