|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 09-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Nhật Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Đắc Tư
- Bà Đoàn Sơn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Châu Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L; (Tên gọi khác: C) sinh năm, 1982; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú: Số C, tổ I, khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Nguyễn Văn H (Chết); họ tên mẹ: Võ Thị H1, sinh năm: 1954; anh chị ruột: Có 04 người lớn nhất sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1989; vợ, con: Không có; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyên Văn L1 nghiện ma túy, từ tháng 01/2024 bị cáo L1 biết Phạm Thị Minh C1 nhà trong kênh 14, ấp V, xã V có bán ma tuý nên L1 đã 04 lần mua ma tuý, loại Heroine của C1 để sử dụng cho bản thân. Trong đó, 03 lần đầu mua ma tuý thì L1 không nhớ rõ ngày, cứ cách khoảng 04 đến 05 ngày mua ma tuý của C1 một lần, mỗi lần mua gói H2, với giá 200.000 đồng, sau khi mua được ma tuý L1 đã sử dụng hết. Đến khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 31/01/2024, L1 điều khiển xe mô tô biển số 65-584RF tiếp tục đi đến nhà C1 mua ma tuý. Khi đến L1 hỏi mua ma tuý của C1 với số lượng “5 ly”, giá 350.000 đồng thì C1 đồng ý bán, C1 nhận tiền rồi lấy trong túi áo đang mặc trên người ra đưa cho Liên cục ma tuý được để trong giấy bạc gói lại. Mua được ma tuý, L1 đi về tìm nơi sử dụng, khi vừa đi đến đầu Kênh 14 thì thấy lực lượng Công an, sợ bị phát hiện trên tay có cất giữ ma tuý nên L1 đã bỏ gói ma tuý xuống đất gần chân L1 thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng còn thu giữ gồm: 01 gói mẫu vật Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1632 gam; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh hồng có số imei 1: 35066463420053; số imei 2: 350664636200551; được gắn 01 sim V, số seri sim: 8984040361006964632.
Tại Kết luận giám định số: 36/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K, Công an T kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,1632 gam.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSVT ngày 04/4/2024 và tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 02 năm tù đến 03 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
+Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Đề nghị hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định 0,1026 gam được niêm phong số 36/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố T.
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh hồng có số imei 1: 35066463420053; số imei 2: 350664636200551; được gắn 01 sim V, số seri sim: 8984040361006964632 do không liên quan đến vụ án.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi mua ma túy của người khác với khối lượng là 0,1632 gam loại Heroine, sau đó cất giấu nhằm mục đích đem về để sử dụng.
Hành vi tàng trữ của Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng của bị cáo gây tác hại trước hết cho chính bị cáo, sau đó là gia đình bị cáo và xã hội. Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, tiêu hao tiền bạc của bản thân người nghiện và gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy.
- - Tình tiết tăng nặng không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có học thức kém nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1026 gam được niêm phong số 36/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng ký thuật hình sự Công an Thành phố T là vật chứng liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh hồng có số imei 1: 35066463420053; số imei 2: 350664636200551; được gắn 01 sim V, số seri sim: 8984040361006964632 do không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo L.
[7] Đối với Phạm Thị Minh C1 khai có bán ma túy cho nhiều người nhưng không nhớ rõ có bán ma túy cho L hay không, vì lúc bán ma tuý cho người nghiện thì thời gian diễn ra nhanh nên không nhớ rõ mặt của người mua ma tuý. Ngày 06/02/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh tạm giam đối với C1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” trong một vụ án khác. Do đó, không đề cập xử lý C1 trong vụ án này là phù hợp.
[8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[10] Bị cáo, được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1026 gam được niêm phong số 36/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố T.
- - Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh hồng có số imei 1: 35066463420053; số imei 2: 350664636200551; được gắn 01 sim V, số seri sim: 8984040361006964632.
(Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh theo Quyết định chuyển vật chứng số:21/QĐ-VKSVT ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Nhật Trường |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TP. CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L (C) phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024. 2. Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật còn lại sau giám định là 0,1026 gam được niêm phong số 36/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố T.
