TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày 09 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Mộng Loan và bà Bùi Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
NÔNG VĂN LUẬN, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1998 tại tỉnh Đăk Lăk; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 2/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nông Văn L, đã chết và bà Nông Thị N, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 20/4/2024. Có mặt.
- Bị hại: Ông Rơ Lan J, sinh năm 1998, địa chỉ: Làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đào Khắc L1, sinh năm 1996, địa chỉ: Số A đường L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Ông Phạm Chí P, sinh năm 1987, địa chỉ: Làng L, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1995, địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1996, địa chỉ: Số E đường L, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 2003, địa chỉ: Tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Rơ Lan Đ, sinh năm 1992, địa chỉ: Làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bà Rơ Lan B, sinh năm 1994, địa chỉ: Làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Puih D, nơi công tác: Công an huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 28/5/2023, Nông Văn L2 đến nhà của ông Rơ Lan J (sinh năm: 1998) tại làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển kiểm soát 81B2-568.04 đi công việc cá nhân. Do có mối quan hệ quen biết với L2 nên ông J đã cho L2 mượn xe mô tô và chỉ đồng ý cho mượn đi một xíu rồi trả. Đến tối cùng ngày, J liên lạc yêu cầu L2 về trả xe tuy nhiên L2 không về và hứa hẹn vài ngày sau sẽ trả mặc dù Jiêu không đồng ý. Đến khoảng 16 giờ ngày 29/5/2023 L2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B2-568.04 đến ngã ba giao nhau giữa xã I, huyện I và xã I, huyện I rủ bạn là Trình Văn N1 (không rõ lai lịch) đi ra thành phố P chơi. Trên đường đi ra thành phố P thì L2 dừng lại đổ xăng và mở cốp xe thấy bên trong có giấy đăng ký xe mô tô nên nảy sinh ý định bán chiếc xe mô tô để lấy tiền tiêu xài cá nhân. L2 cùng N1 đi bán xe mô tô nhưng không nói cho N1 biết nguồn gốc xe từ đâu. L2 và N1 đến tiệm C địa chỉ E L, phường P, thành phố P bán xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển kiểm soát 81B2-568.04 cho ông Đào Khắc L1 (sinh năm: 1996, trú tại: A L, phường Y, thành phố P) với giá 15.000.000đ. Sau đó, N1 đi công việc nên L2 cũng không liên lạc được. L2 dùng số tiền bán xe mô tô được để tiêu xài cá nhân hết. Ông J cùng gia đình nhiều lần gọi điện thoại cho L2 để lấy lại xe nhưng L2 liên tục hứa hẹn rồi không nghe điện thoại, bấm máy bận không liên lạc được. Sau nhiều lần liên lạc với Nông Văn L2 thì Rơ Lan J được L2 cho biết đã bán chiếc xe mô tô ở thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể. Luận trốn tránh không gặp lại Jiêu lần nào nữa. Đến ngày 06/11/2023 Nông Văn L2 đã ra Công an trình diện khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện I xác định: Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển kiểm soát 81B2-568.04, xe đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 28/5/2023 là 28.330.000đ (hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển kiểm soát 81B2-568.04. Hiện đã trả xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Rơ Lan J.
Về phần dân sự: Hiện nay bị hại Rơ Lan J đã nhận lại được tài sản bị xâm phạm nên không có yêu cầu gì. Ông Đào Khắc L1 yêu cầu Nông Văn L2 bồi thường số tiền 15.000.000đ, L2 chưa bồi thường cho ông L1.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nông Văn L2 về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý về tội danh và điều luật bị truy tố, không có ý kiến kêu oan.
- Ông Đào Khắc L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng mà cá nhân ông L1 đã bỏ ra để mua xe, số tiền này không liên quan đến ông Nguyễn Văn T1. Ông Phạm Chí P yêu cầu ông L1 bồi thường số tiền đã mua lại xe môtô. Ông Nguyễn Quang H yêu cầu ông T bồi thường số tiền 23.000.000 đồng đã bỏ ra để mua lại xe mô tô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 16 đến 20 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho ông Đào Khắc L1 số tiền 15.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện I, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên tất cả đều hợp pháp và không có ý kiến, khiếu nại.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo L2 thừa nhận đã thực hiện hành vi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh đen, biển kiểm soát 81B2-568.04 của ông Rơ Lan J để sử dụng, sau đó phát hiện có giấy đăng ký xe nên đã mang xe đi bán cho Đào Khắc L1 lấy số tiền 15.000.000 đồng.
[3] Xét bị cáo đã thực hiện hành vi lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để mượn tài sản nhưng cố tình không trả mà đã chiếm đoạt, bán tài sản cho người khác. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm trái phép đến tài sản của người khác. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt có giá trị 28.330.000 đồng, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự nên đã phạm vào “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
[5] Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm đến tài sản của người khác nhưng vì muốn có tiền phục vụ nhu cầu cá nhân cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt và bỏ đi nơi khác sinh sống, không bồi thường cho bị hại, do đó cần phải xử lý nghiêm khắc để trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục ý thức pháp luật, quy tắc tôn trọng tài sản của người khác và phòng ngừa tội phạm.
[6] Về nhân thân, các bị cáo là người có nhân thân tốt. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là ông Đào Khắc L1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, đây là số tiền bị thiệt hại do đã trả cho bị cáo mua xe môtô nhưng đây là tài sản do phạm tội mà có. Yêu cầu của ông L1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L1, buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.
[8] Đối với việc những người mua lại xe môtô sau khi bị cáo bán xe cho ông L1, đây là những giao dịch dân sự giữa các bên, không phải là thiệt hại về tài sản bị chiếm đoạt do bị cáo trực tiếp gây ra nên không thuộc phần dân sự trong vụ án hình sự này. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này mà các bên có quyền tự thỏa thuận giải quyết hoặc khởi kiện yêu cầu giải quyết nếu có tranh chấp theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nông Văn L2 phạm “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn L2 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/4/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nông Văn L2 bồi thường cho ông Đào Khắc L1 số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo Nông Văn L2 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (bảy trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Văn Huy |
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về hình sự - tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn L phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự
