Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-05-2024

V/v “Ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Mạnh Tiến

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/03/2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Đỗ Phi H, sinh năm 1976 (Xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, ngõ E, ngách E, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 (Xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, ngõ E, ngách E, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo khởi kiện đề ngày 28/02/2024 và bản tự khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Đỗ Phi H trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ngày 26/11/2002. Cuộc sống vợ chồng anh hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên bất đồng quan điểm nên hay cãi vã, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, áp lực. Vợ chồng hiện đã sống ly thân, không ai còn quan tâm tới ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn chị T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Trung H1, sinh ngày 27/02/2003 và Đỗ Trung H2, sinh ngày 01/3/2012. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, ở với ai là tuỳ cháu. Anh có nguyện vọng được nuôi cháu H2. Vấn đề cấp dưỡng anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai có trong hồ sơ, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố B ngày 26/11/2002. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống nên thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn tới cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh H xin ly hôn, chị đồng ý.

- Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Trung H1, sinh ngày 27/02/2003 và cháu Đỗ Trung H2, sinh ngày 01/3/2012. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, ở với ai là tuỳ cháu còn cháu H2 chị đồng ý để anh H nuôi cháu. Vấn đề cấp dưỡng chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh H và chị T đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Chủ toạ phiên toà công bố lời khai của anh H, chị T và cháu H2 có trong hồ sơ.

Vụ án không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Anh Đỗ Phi H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, con chung với chị Nguyễn Thị T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là “Ly hôn, con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại phường N, thành phố B nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn anh Đỗ Phi H và bị đơn chị Nguyễn Thị T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Anh Đỗ Phi H và chị Nguyễn Thị T kết hôn ngày 26/11/2003 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Anh H đã cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn bản sao nên quan hệ hôn nhân giữa anh H, chị T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, anh H, chị T đều xác định cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đến nay đã trở nên trầm trọng và sống ly thân nhau từ lâu, không ai còn quan tâm tới ai. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H xin ly hôn, chị T nhất trí. Việc nhất trí ly hôn của anh H, chị T là hoàn toàn tự nguyện nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

[2.2] Về con chung: Anh H, chị T xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Trung H1, sinh ngày 27/02/2003 và cháu Đỗ Trung H2, sinh ngày 01/3/2012. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, ở với ai là tuỳ cháu nên anh H chị T không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu H2, anh H chị T đều thống nhất để anh H trực tiếp nuôi cháu H2 nên cần chấp nhận yêu cầu này của anh H, chị T. Giáo cháu H2 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung anh H, chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh H, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án để buộc anh H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cần tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử:

2.1. Về quan hệ vợ chồng: Anh Đỗ Phi H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

2.2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Trung H2, sinh ngày 01/3/2012 cho anh Đỗ Phi H được trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị T không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của người con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các bên đương sự có yêu cầu.

2.3. Về án phí: Anh Đỗ Phi H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0001665 ngày 26/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

2.4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

2.5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Bắc Giang,
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang,
  • - Các đương sự,
  • - UBND phường Ngô Quyền;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Đỗ Phi H xin ly hôn chị Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger