Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày: 07/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương và ông Nguyễn Hồng Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Văn Hữu Đ; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 22/11/1964 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Ứ (chết) và bà Hồ Thị C, sinh năm 1931; có vợ là Lê Thị B, sinh năm 1973; có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/02/2024 đến ngày 22/02/2024, hiện đang bị áp dụng “biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị B, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Hồ Thị O, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Chị Lê Thị H, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn Ư, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/02/2024, Văn Hữu Đ là tài xế, điều khiển xe khách biển kiểm soát 75B-014.63, nhãn hiệu TRANSINCO, loại 29 chỗ ngồi chạy tuyến cố định từ chợ Đ1, thành phố H đi Đ, huyện P và ngược lại. Khi xe của Đ điều khiển đến khu vực chợ M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị dừng lại chờ khách thì có 01 người phụ nữ (quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) đang đứng đón xe và thuê bị cáo vận chuyển 254 cây (2.540 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu JET để trong 06 thùng giấy vào khu vực chợ A, xã P sẽ có người nhận với số tiền vận chuyển là 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi đi đến Km4+800m Quốc lộ D thuộc địa phận xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bị Tổ công tác Công an huyện P kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi vận chuyển hàng cấm là số thuốc lá điếu nhập lậu nói trên.

Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ:

  • - 2540 (Hai nghìn năm trăm bốn mươi) bao thuốc lá điếu hiệu JET.
  • - 01 xe ôtô khách biển kiểm soát 75B-014.63 màu xanh trắng, nhãn hiệu TRANSINCO, số loại HAECOK29S2, số máy D4DB9-394379, số khung KMJHD17BP9C-904739, đã qua sử dụng.
  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô biển số 75 008700, biển đăng ký 75B-014.63, tên chủ xe Văn Hữu Đ, do Công an tỉnh T cấp ngày 13/12/2021.
  • - 01 giấy chứng nhận kiểm định số 0014668 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 28/9/2023.
  • - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn thẻ sim số 0935520162, số IMEIL: 354185100494807 đã qua sử dụng.
  • - Tiền Việt Nam: 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn thẻ sim số 0935520162 cho Văn Hữu Đ.

Tại bản kết luận giám định số 367/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận 2.540 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET (loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp, các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).

Tại Công văn số 115/CN-CNTP ngày 28/3/2024, Cục C1 thuộc Bộ C2 trả lời:

  • + Đối với sản phẩm thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, qua theo dõi hiện nay chưa có doanh nghiệp có Giấy phép sản xuất sản phẩm thuốc lá và Giấy phép phân phối sản phẩm thuốc lá tại Việt Nam sản xuất và phân phối trên thị trường.
  • + Thuốc lá nhãn hiệu JET được sản xuất bởi Công ty N1. Đây là công ty của I kinh doanh nhiều lĩnh vực trong đó có thuốc lá nhãn hiệu JET tại thị trường Indonesia và một số nước khác trên thế giới.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS-PĐ ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo Văn Hữu Đ về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Văn Hữu Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu; sung quỹ nhà nước số tiền 150.000 đồng và ½ giá trị xe ôtô khách biển kiểm soát 75B-014.63, trả lại cho chị Lê Thị B ½ giá trị xe ôtô 75B-014.63.

Bị cáo Văn Hữu Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo lần đầu phạm tội, lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là phù hợp quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng, nhận thấy đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, công bố lời khai người vắng mặt tại phiên tòa.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Văn Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 13/02/2024, tại khu vực chợ M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, Văn Hữu Đ đã có hành vi điều khiển xe ôtô khách biển kiểm soát 75B-014.63 vận chuyển thuê 2.540 (Hai nghìn năm trăm bốn mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu JET vào khu vực chợ A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế với giá vận chuyển 150.000 đồng. Khi đi đến Km4+800m Quốc lộ D thuộc địa phận xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bắt quả tang.

Hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 2.540 bao của bị cáo đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự. Do vậy, bản cáo trạng số 15/CT-VKS-PĐ ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Văn Hữu Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu làm xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự 06 năm trong đó có 02 năm làm nghĩa vụ quốc tế; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa lần nào vi phạm pháp luật.

[5] Xét căn cứ quyết định hình phạt thấy rằng: Bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và phạt bổ sung bằng tiền cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 2.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu hoàn lại sau khi giám định là hàng cấm cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 150.000đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc vận chuyển hàng cấm nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với xe ôtô khách biển kiểm soát 75B-014.63 màu xanh trắng, nhãn hiệu TRANSINCO là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, đây là tài sản chung vợ chồng bị cáo, việc bị cáo sử dụng xe để vận chuyển hàng cấm vợ bị cáo là chị Lê Thị B không biết, số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã nộp lại, chưa sử dụng vào việc phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình nên tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị xe ôtô biển kiểm soát 75B-014.63; ½ giá trị chiếc xe còn lại thuộc sở hữu của chị Lê Thị B nên trả lại cho chị Lê Thị B.

Tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; giấy chứng nhận kiểm định số 0014668 ngày 28/9/2023 để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, bên trong gắn thẻ sim số 0935520162, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Văn Hữu Đ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với người đã thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá tại chợ M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch địa chỉ cụ thể, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Văn Hữu Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Văn Hữu Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/6/2024).

    Phạt bổ sung bị cáo Văn Hữu Đ số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

    Giao bị cáo Văn Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
    • - Tịch thu tiêu huỷ 2.300 bao thuốc lá điếu JET;
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 150.000đồng;
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị xe ôtô khách biển kiểm soát 75B-014.63 màu xanh trắng, nhãn hiệu TRANSINCO;
    • - Trả lại cho chị Lê Thị B ½ giá trị xe ôtô biển kiểm soát 75B-014.63;
    • - Tạm giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; giấy chứng nhận kiểm định số 0014668 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh T cấp ngày 28/9/2023 để đảm bảo thi hành án.

    (Các vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/5/2024 và Uỷ nhiệm chi ngày 16/5/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc bị cáo Văn Hữu Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Chi cục THADS huyện Phong Điền;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Đoàn Anh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Văn Hữu Đ - Vận chuyển hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger