TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST Ngày : 06/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hồ Bạch Long
- Bà Võ Thị Bạch Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Tấn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai, bằng hình thức trực tuyến tại 2 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại phòng xét xử A, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, TP . có mặt gồm có Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, thành phố Hồ Chí Minh có mặt bị cáo, lực lượng bảo vệ phiên tòa đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo: Trương Đức P (tên gọi khác: P), sinh năm: 1996 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở trước khi bị bắt: 339/2A khu phố P, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức M, Sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1976; có vợ: Trần Nguyễn Quỳnh N, sinh năm: 1994 và một người con: Trương Trần Như Ý, sinh năm: 2021; A, chị, em: có 01 người (sinh năm 1993); Tiền án, Tiền sự : Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 01/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/02/2024 đến nay và có mặt tại điểm cầu xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Đức M, Sinh năm: 1969
1
Nơi cư trú: A ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
Lực lượng bảo vệ phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Văn B và ông Trần Hùng Tuấn K – Cán bộ chiến sĩ thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện C
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, Trương Đức P điều khiển xe máy BS: 59Z1- 242.21 đi từ nhà tại thị trấn C, huyện C đến đường Đ, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp 01 người đàn ông không rõ lai lịch mua ma túy Methamphetamine với số tiền 700.000 đồng thì được 16 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy. Sau khi mua ma túy xong, P bỏ ma túy vào vỏ bao thuốc lá 555 và cất giấu vào bên trong túi áo rồi điều khiển xe đi về. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày khi Trương Đức P đang lưu thông đến khu vực bãi đất trống thuộc tổ F khu phố G, thị trấn C, huyện C thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện và bắt quả tang.
Ngoài ra trước đó Trương Đức P còn mua ma túy của người đàn ông kể trên 01 lần vào ngày 15/01/2024 với số tiền 500.000 đồng để sử dụng.
Ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Đức P, hình dấu công an thị trấn C, bên trong có 16 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng hàn kín hai đầu đã thu giữ. Bản Kết luận giám định số: 2143/KL-KTHS ngày 09/02/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,7188 gam (không phẩy một tám tám bốn gam), loại Methamphetamine. Mẫu vạt còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có tổng khối lượng 1,6543g.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Trương Đức P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng vụ án:
- + Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang:
- - 16 đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy, ở thể rắn, có khối lượng 1,7188g, loại Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá 555, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, bị bể màn hình, màu xanh, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trương Đức P.
2
- - 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại BLADE, màu đen-trắng, BS: 59Z1- 242.21, đã qua sử dụng, là tài sản của ông Trương Đức M cho P mượn đi làm, việc P sử dụng đi mua ma túy ông M không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông M;
- + Vật chứng thu giữ khi khám xét: không có
Cáo trạng số 19/CT-VKS –H.CG ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo Trương Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo P như sau: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được thuộc trường hợp qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trương Đức P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Đức P, hình dấu công an thị trấn C, chữ ký giám định viên ghi tên Thượng úy Nguyễn Văn Út L, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 16 (mười sáu) đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng hàn kín hai đầu chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6543g; 01 vỏ bao thuốc lá 555, đã qua sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Đức M trình bày xe máy mà P sử dụng khi bị bắt quả tang là của ông. Ông không biết P sử dụng đi mua ma túy. Ông đã nhận được lại tài sản đầy đủ, không có yêu cầu, khiếu nại nào khác.
Bị cáo Trương Đức P đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo biết mình xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, khoan hồng hình phạt để bị cáo quay về lo cho gia đình và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền,
3
trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Đức P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được cũng như diễn biến tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/01/2024, tại khu vực bãi đất trống thuộc tổ F khu phố G, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Trương Đức P đã bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ở thể rắn, có khối lượng 1,7188g, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo Trương Đức P về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định của pháp luật.
Điều 249: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trương Đức P đã đủ 18 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì sự nuông chiều ham muốn của bản thân, xem thường pháp luật nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, thể hiện lối sống không lành mạnh, sa đà vào tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân: bị cáo chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trương Đức P có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Bị cáo đã rất hối hận trong thời gian tạm giam nên thành khẩn, hứa quyết tâm từ bỏ ma túy, chấp hành án sớm trở về với gia đình.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét nhân thân của bị cáo và khả năng tự cải tạo giáo dục của bị cáo; Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo tương xứng với hành vi và
4
mức độ phạm tội để nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, bị bể màn hình, màu xanh, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Trương Đức P là đúng quy định.
Đối với xe máy hiệu Honda, loại BLADE, bên ngoài màu đen-trắng, trên giấy chứng nhận màu xám-đen, BS: 59Z1- 242.21, đã qua sử dụng, là tài sản của ông Trương Đức M cho P mượn đi làm, việc P sử dụng đi mua ma túy ông M không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông M là đúng quy định.
[5] Về các tình tiết khác của vụ án:
Đối với người đã nhiều lần bán ma túy cho P do không xác định địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không triệu tập tham gia tố tụng, không có cơ sở để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo Trương Đức P phải nộp là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Đức P: 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/02/2024.
Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Đức P, hình dấu công an thị trấn C, chữ ký giám định viên ghi tên Thượng úy Nguyễn Văn Út L, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 16 (mười sáu) đoạn ống nhựa màu vàng sọc trắng hàn kín hai đầu chứa tinh thể không màu, qua giám định là ma túy loại Methamphetamine ở thể rắn, có tổng khối lượng sau giám định là 1,6543g; 01 vỏ bao thuốc lá 555, đã qua sử dụng;
3. Về án phí:
5
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Đức P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Minh |
6
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
