|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ GIANG TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/HS-ST
Ngày 06-05-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sùng Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Sông
Bà Triệu Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Mồng Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06/5/2024, tại điểm cầu trung tâm, Hội trường xét xử hình sự Toà án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang; mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 16/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 22/04/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN TUYÊN; sinh ngày 11/11/1983, tại tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký HKTT: Tổ H, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung K (đã chết) và bà Trần Thị K1, sinh năm 1950; vợ, con: Có vợ là Lục Minh K2, sinh năm 1987 và 01 con, con 11 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/8/2012, Công an phường N, quận L, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa tiền sự). Bản án số 13/HSST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang tuyên phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2023, đến ngày 24/12/2023 bị khởi tố và tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang. (có mặt tại điểm cầu thành phần).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên vào khoảng 05 giờ ngày 13/12/2023 Nguyễn Văn T đi từ nhà mẹ vợ là bà Lý Kim N một mình đi ra bến xe khách thành phố H rồi bắt xe khách chạy tuyến Hà Giang -Thái Nguyên với mục đích sang thành phố T để tìm mua ma túy (Heroine) về sử dụng. Trước khi đi T đã chuẩn bị số tiền khoảng 11.000.000 đồng (M một triệu đồng) để mua ma túy. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì T đến bến xe khách thành phố T. T đi bộ vòng quanh khu vực bến xe thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, mặc quần áo thể thao màu đen, dáng người cao gầy (T đoán là người nghiện) T tiếp cận đặt vấn đề hỏi mua ma túy (loại heroine), thì được trả lời “có mua bao nhiêu”, T nói “mười triệu”, người đàn ông đồng ý rồi bảo T đứng chờ. Khoảng 30 phút sau thì người đàn ông này quay lại và đưa cho T một túi nilon màu trắng, T nhìn thấy bên trong có hai cục màu trắng, có hình dạng và kích thước khác nhau, T xác định đúng là ma túy heroine, rồi nhận gói ma túy đồng thời đưa trả 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) cho người đàn ông, nhận tiền xong người đàn ông cất tiền vào trong người rồi bỏ đi. T đi vào nhà vệ sinh bến xe khách, mở gói ma túy lấy ra một lượng nhỏ để sử dụng. Số ma túy còn lại T cất vào trong túi quần đang mặc sau đó ra bắt xe khách về thành phố H. Đến 20 giờ cùng ngày T về đến thành phố H, đi về nhà mẹ vợ là bà Lý Kim N. T đi lên phòng ngủ của vợ chồng trên tầng hai, lấy một chiếc kéo cắt tờ giấy A4 đã có sẵn trong phòng ra 20 mảnh giấy nhỏ hình vuông với mục đích để chia nhỏ số ma túy đã mua được để sử dụng dần. Sau đó T lấy gói ma túy vừa mua được trong túi quần ra (gồm hai cục màu trắng để trong túi ni lông), T lấy một cục rồi lấy bật lửa nghiền cho vỡ vụn, chia đều ra 20 gói nhỏ để vào trong bao thuốc lá Thăng Long, để trên mặt ghế cạnh cửa để sử dụng dần. Số ma túy còn lại T cho vào túi ni lông cùng cục ma túy ban đầu rồi cho vào giỏ quần áo trên tầng hai để giấu. Trong số 20 gói ma túy từ ngày 13 đến ngày 15/12/2023 T đã sử dụng 04 gói, còn 16 gói vẫn để trong bao thuốc lá. Đến khoảng 09 giờ ngày 15/12/2023 T có việc phải đi ra ngoài nên lấy 02 (hai) gói ma túy từ trong bao thuốc lá cất trong túi quần bên phải đang mặc trên người để khi có nhu cầu sử dụng thì sử dụng luôn. T đi bộ từ nhà mẹ vợ đi ra đến gần khu vực ngã ba tiếp giáp giữa đường T với đường L thuộc tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Giang thì thấy có lực lượng Công an đến, do lo sợ bị bắt giữ nên T dùng tay phải lấy hai gói ma túy ra ném sang lề đường bên trái theo hướng di chuyển của T cách vị trí T đứng 1,80m, đồng thời lúc này lực lượng Công an đã khống chế lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 02 (hai) gói nhỏ nghi là ma túy (Heroine) theo quy định.
Cùng ngày Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp, số 13/LKX-ĐCSHS-KTMT, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, thu giữ tại vị trí gian thờ tầng 02 phát hiện trên mặt ghế inox cạnh cửa ra vào bên tay trái theo hướng đi từ dưới lên trên có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 14 (mười bốn) gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine). Tại thùng bìa catton đựng quần áo phát hiện một gói nilon màu trắng, bên trong có một gói nilon khác bên trong có 02 (hai) cục màu trắng (nghi là ma túy heroine) .Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Văn T kết quả có phản ứng dương tính với chất ma túy loại MOP.
2
Kết quả cân tịnh khối lượng mẫu vật thu giữ vào ngày 15 tháng 12 năm 2023 tại Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang: Chất bột màu trắng ký hiệu từ Al đến A16 và chất màu trắng dạng cục ký hiệu A17 có tổng khối lượng 22,423g (hai mươi hai phẩy bốn trăm hai mươi ba gam).
Ngày 17/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số:118/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng K3 Công an tỉnh H giám định đối với toàn bộ các chất bột màu trắng ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, A15, A16 và các chất màu trắng dạng cục, ký hiệu A17.
Tại bản kết luận giám định số: 08/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh H, kết luận: 17 (mười bảy) mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ A1 đến A17 đều là ma túy loại Heroine, có tổng khối lượng là 22,423g (Hai mươi hai phẩy bốn trăm hai mươi ba gam). Heroine có tên khoa học là D thuộc Danh mục I, số thứ tự 09 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố H T khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, số ma túy trên T mua về nhằm mục đích sử dụng. Như vậy hành vi của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra Cơ quan ảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Giang những vật chứng gồm:
- - 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A17”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của phòng K3 tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong.
- - 01(một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 03 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.
- - 01(một) bật lửa ga màu xanh.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím trần, màu xanh (đã qua sử dụng).
- - 01(một) bật lửa ga màu đỏ.
- - 01 (một) cái kéo bằng kim loại, có chuôi bằng nhựa màu đỏ xám.
3
- - 01 (một) tệp giấy A4, trong đó có một tờ bị cắt ngắn ở đầu cùng 3 mảnh giấy nhỏ có kích thước khác nhau.
- - 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung, màu đen (đã qua sử dụng).
Số tiền 2.269.000đ (hai triệu hai trăm sáu chín nghìn đồng).
Cáo trạng số 16/CT-VKSTPHG ngày 15/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ chứng minh do cơ quan Điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
- * Tịch thu tiêu hủy đối với:
- - Vật chứng cấm tàng trữ, cấm lưu hành: 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A17”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của phòng K3 tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong.
- - Vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01(một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 03 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01(một) bật lửa ga màu xanh; 01(một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, có chuôi bằng nhựa màu đỏ xám; 01 (một) tệp giấy A4, trong đó có một tờ bị cắt ngắn ở đầu cùng 3 mảnh giấy nhỏ có kích thước khác nhau.
- * Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím trần, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung, màu đen (đã qua sử dụng); Số tiền 2.269.000đ (hai triệu hai trăm sáu chín nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
4
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy việc làm của bị cáo đã vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, mong HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 22,423gam ma túy (heroine) mục đích để sử dụng, đồng thời, niêm phong vật chứng có liên quan theo quy định của pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 BLHS quy định:
“...2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- ....
- Heroine, cocaine, Methamphetamine, A, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;"
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và pháp luật xã hội chủ nghĩa. Ma túy là loại độc dược có tính gây nghiện cao nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vẫn chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma túy. Qua đó thể hiện việc bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A17”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của phòng K3 tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong; 01(một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 03 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01(một) bật lửa ga màu xanh; 01(một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, có chuôi bằng nhựa màu đỏ xám; 01 (một) tệp giấy A4, trong đó có một tờ bị cắt ngắn ở đầu cùng 3 mảnh giấy nhỏ có kích thước khác nhau. Xét thấy, những vật chứng trên là ma túy thuộc vật nhà nước cấm lưu hành và đồ vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím trần, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung; Số tiền 2.269.000 đ (hai triệu hai trăm sáu chín nghìn đồng). Xét thấy hai chiếc điện thoại di động và số tiền trên không sử dụng vào hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn T, do đó trả lại cho bị cáo T hai chiếc điện thoại di động trên và số tiền 2.269.000 đ (hai triệu hai trăm sáu chín nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác định là hành vi vi phạm hành chính, ngày 22/04/2024 Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 00362/QĐ-XPHC, đối với Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT - ATXH bằng hình thức phạt cảnh cáo, là đúng quy định của pháp luật.
[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn T vào ngày 13/12/2023, bản thân bị cáo T không quen biết, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[10] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 47; khoản 1 Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2, 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 15/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
- * Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu từ A1 đến A17”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của phòng K3 tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong; 01(một) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 03 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01(một) bật lửa ga màu xanh; 01(một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) cái kéo bằng kim loại, có chuôi bằng nhựa màu đỏ xám; 01 (một) tệp giấy A4, trong đó có một tờ bị cắt ngắn ở đầu cùng 3 mảnh giấy nhỏ có kích thước khác nhau.
- * Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím trần, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 (một) chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Sam Sung, màu đen (đã qua sử dụng); Số tiền 2.269.000đ (hai triệu hai trăm sáu chín nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Giang).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sở thẩm báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sùng Thị Mai |
8
Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS
