|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 17/2024/HNGĐ-ST Ngày 05-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hải Hà.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lã Anh Tuấn
Ông Phạm Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lương Văn T, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ Đ 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Tổ Đ 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 01 năm 2024 và quá trình tố tụng tại Toà án, nguyên đơn là anh Lương Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng vào ngày 11/05/2006. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại tổ Đ 2, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành mà ngày càng trầm trọng. Từ năm 2018 đến nay, chị T đã ra ngoài ở riêng, vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai quan tâm và trách nhiệm gì với nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, không thể đoàn tụ được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị T.
- Về con chung: Anh và chị Đỗ Thị T có một con chung tên là Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015. Từ khi ly thân con chung do anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, anh đề nghị Toà án giao con chung cho anh tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, quá trình tố tụng tại Toà án, bị đơn là chị Đỗ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị T xác định lời khai của anh Lương Văn T về điều kiện, thời gian kết hôn là đúng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, chị không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được, tuy nhiên anh T có đơn xin ly hôn, chị không đồng ý.
Về con chung: Chị và anh Lương Văn T có một con chung tên là Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015. Nếu ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con chung cho chị tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên toà theo các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T được ly hôn chị Đỗ Thị T.
Về con chung: Anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T có một con chung tên là Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015. Giao con chung cho anh Lương Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý, bị đơn là chị Đỗ Thị T có nơi cư trú tại tổ Đ, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung:
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Lương Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Đỗ Thị T đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Quan hệ hôn nhân giữa anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/5/2016 tại Ủy ban nhân dân phường P, quận K, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T là hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4]. Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu khác do Toà án thu thập được, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng anh T và chị T hoà thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính cách không hoà hợp cả về kinh tế dẫn đến vợ chồng thường xảy ra va chạm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hoà giải nhưng không đạt kết quả mà ngày càng trầm trọng. Từ năm 2018 đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh T và chị T đã thực sự trầm trọng, không thể khắc phục đoàn tụ được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh Lương Văn T xin ly hôn với chị Đỗ Thị T.
[5]. Về con chung: Anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T có một con chung tên là Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015. Ly hôn, anh T và chị T đề có nguyện vọng đề nghị Toà án giao con chung cho anh, chị tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chung, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và xem xét nguyện vọng của con chưa thành niên. Anh Lương Văn T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, việc nuôi con ổn định và được đảm bảo tốt về mọi mặt. Mặt khác, con chung có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở với bố. Vì vậy, cần giao cho anh Lương Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định tại các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T: Giao con chung Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh T và chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về tài sản chung: Anh T và chị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7]. Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lương Văn T được ly hôn với chị Đỗ Thị T.
2. Về con chung: Giao con chung Lương Ngọc Y, sinh ngày 01 tháng 11 năm 2015 cho anh Lương Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung: Anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Anh Lương Văn T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004779 ngày 24/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng. Anh Lương Văn T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Anh Lương Văn T và chị Đỗ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Hải Hà |
Bản án số 17/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 17/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lương Văn T xin ly hôn chị Đỗ Thị T
