Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/DS-ST

Ngày: 05-7-2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Huấn và ông Chảo Láo Lủ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường-Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa tham gia phiên tòa: Ông Lã Chúc Cương-Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hà Minh Q, sinh năm 19xx.
  2. Địa chỉ: Tổ 20, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

  3. Bị đơn: Ông Vàng A L.
  4. Địa chỉ: Thôn Ý, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cụ Sùng Thị L, sinh năm 19xx. Vắng mặt.

Chị Sùng Thị Ch. Vắng mặt.

Anh Vàng A S. Vắng mặt.

Anh Vàng A S. Vắng mặt.

Anh Vàng A Ch. Vắng mặt.

Anh Vàng A P. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã H, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ma Ngọc Mạnh L, sinh năm 19xx.

Địa chỉ: Tổ 01, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 1986, ông Hà Minh Q khai phá diện tích đất khoảng 2,5ha tại xóm 2, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa (Nay là tổ 02, phường S, thị xã S), tỉnh Lào Cai. Năm 1992, gia đình ông Hà Minh Q làm thủ tục xin cấp đất và được Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa ban hành Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 với diện tích đất 2,5ha mang tên ông Hà Minh Q. Trong đó, đất trồng cây gây rừng là 0,5 ha; đất trồng cây ăn quả là 1,0 ha; đất nương định canh là 1,0 ha. Sau khi được cấp đất gia đình trồng cây theo phương thức nông, lâm kết hợp thâm canh trồng cây ăn quả, trồng xen cây Thông Sa Mộc, cây Trẩu và Tống Cuốn Sủi. Đến năm 2004, các loại cây lâu năm khép tán phủ kín đất, nên gia đình không trồng cây hàng năm nhưng vẫn tiếp tục chăm sóc cây và quản lý vườn rừng.

Đến đầu năm 2018, một số hộ gia đình người HMông tranh chấp chặt phá cây và lấn chiếm đất để trồng cây Ngô, trong đó có gia đình ông Vàng A L lấn chiếm diện tích đất là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Ngày 07 tháng 8 năm 2019, Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Sa Pa, Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa, Ban quản lý khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, Ủy ban nhân dân xã Lao Chải, Ủy ban nhân dân thị trấn Sa Pa, Ủy ban nhân dân xã San Sả Hồ xác định diện tích đất vườn rừng của gia đình ông Hà Minh Q, có 10 hộ dân lấn chiếm để trồng cây Ngô là các hộ gia đình ông Thào A Ch, Sùng A Ch, Vàng A D, Sùng A L, Thào A S, Sùng A S, Sùng A Th, Sùng A V, Sùng A C, Vàng A L. Từ năm 2020 đến năm 2021, các hộ dân tiếp tục chặt phá rừng, nên ông Hà Minh Q nhiều lần gửi đơn trình báo kèm theo ảnh hiện trạng rừng đên Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa, Công an phường Sa Pa.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021, Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa tiến hành làm việc với hộ gia đình ông Hà Minh Q, để thống nhất biện pháp trồng lại rừng trên diện tích đất đã được cấp làm vườn rừng đã bị các các hộ dân khác khai thác, chặt phá. Đến ngày 19 tháng 3 năm 2021, gia đình ông Hà Minh Q nhận 5000 cây Thông Sa Mộc của Hạt Kiểm lâm thị xã Sa Pa để trồng lại trên diện tích đất vườn rừng đã bị chặt phá. Đến ngày 20 tháng 3 năm 2021, gia đình ông Hà Minh Q thuê người đưa cây đến trồng thì bị một số người dân tộc Mông đến ngăn cản, uy hiếp không cho trồng cây và nhổ hết số cây đã trồng. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa giải quyết: Buộc ông Vàng A L, cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P trả lại diện tích đất là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai và phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Vàng A L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P đến Tòa án để lấy ý kiến, cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích của họ, nhưng họ không đến trình bày nên không ghi được ý kiến của họ.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào sổ quản lý vườn rừng/quyết định cấp đất làm vườn rừng số 22, kết quả đo đạc của Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa và Văn bản số: 455/TNMT/QLĐĐ 19 tháng 9 năm 2022 của phòng tài nguyên và môi trường thị xã Sa Pa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Vàng A L, cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P trả lại diện tích đất là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Rút yêu cầu của ông Hà Minh Q về việc, buộc ông Vàng A L phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

Rút yêu cầu khởi kiện của ông Hà Minh Q về việc, buộc ông Vàng A L phải trả diện tích đất là 1.117,6m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai

2

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định pháp luật; việc chấp hành pháp luật của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành pháp luật.

Về nội dung quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 100, Điều 203 Luật đất đai; Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 147, Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xét xử buộc ông Vàng A L, cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P trả lại diện tích đất là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Đình chỉ yêu cầu của ông Hà Minh Q về việc ông Vàng A L phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất, diện tích đất là 8.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Vàng A L phải trả diện tích đất là 1.117,6m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai

Tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; Căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận thây:

  1. Về áp dụng pháp luật tố tụng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại đất diện tích là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai và khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án và quan hệ giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn ông Vàng A L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P đều vắng mặt không lý do. Do vây, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Xét yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy:

Năm 1986, ông Hà Minh Q khai phá diện tích đất là 2,5ha, có địa chỉ tổ 02, phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Đến ngày 25 tháng 5 năm 1992, Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa ban hành Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 đối với diện tích đất 2,5ha cho ông Hà Minh Q. Ông Hà Minh Q cung cấp người làm chứng, giấy cấp đất chứng minh đất được cấp nêu trên giáp đất liền kề của các hộ ông Nguyễn Tự D, ông Giàng Xuân Ch những hộ dân này cũng được Nhà Nước giao đất trong cùng thời gian năm 1992 và những người làm chứng ông Nguyễn Minh S, ông Đỗ Tràng Ch, ông Nguyễn Tiến S có đất liền kề xác nhận.

3

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu chứng cứ, tuy nhiên bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện quyền, nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của mình. Tòa án đã nhiều lần tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ bị đơn ông Vàng A L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ngăn cản, nên Tòa án không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ được. Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả đo đạc do Cơ quan trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa đã đo đạc, được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Lào Cai duyệt, làm căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp do gia đình ông Vàng A L đang sử dụng diện tích đất là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai để làm căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp là có cơ sở.

Tại văn bản số: 455/TNMT-QLĐT ngày 19 tháng 9 năm 2022 của phòng tài nguyên và môi trường thị xã Sa Pa, xác định sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định cấp đất vườn rừng số 22 năm 1992 cho ông Hà Minh Q; Sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định vườn rừng số 22 năm 1992 cấp đất cho ông Nguyễn Tự Do; Sổ quản lý vườn rừng theo Quyết định vườn rừng số 24 năm 1992 cấp đất cho ông Giàng Xuân Chư thì thấy tại sơ đồ vườn rừng của các Quyết định cấp đất cho ông Nguyễn Tự Do và ông Giàng Xuân Chư, thửa đất của ông Hà Minh Q giáp với đất của ông Giàng Xuân Chư. Tại thực địa, thửa đất đang tranh chấp hiện nay giữa ông Hà Minh Q với các hộ gia đình các ông Sùng A Ch, Sùng A C, Vàng A D, Sùng A L, Vàng A L, Sùng A S, Vàng A D, Sùng A Th, Vàng A V có giáp ranh với đất của ông Giàng Xuân Ch và ông Nguyễn Tự D là đúng. Như vậy, diện tích đất là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất 2,5ha-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai phù hợp với lời khai của những người làm chứng do nguyên đơn ông Hà Minh Q cung cấp.

Theo công văn số: 16/CV-BQLHR ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Ban quản lý khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, xác định toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong phần diện tích đất 64,55ha chưa giải phóng mặt bằng theo kết luận Thanh tra số: 01/KL-TT ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Thanh tra tỉnh Lào Cai và không nằm trong phạm vi đất mà Ban quản lý khu di lịch sinh thái Hàm Rồng quản lý được giao quản lý.

Tại công văn số: 1082/UBND-TNMT ngày 7 tháng 6 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thị xã Sa Pa, về việc cung cấp thông tin xác định diện tích đất 8.567,1m² thì có 7.449,4m² nằm trong diện tích đất 20.652,9m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai do Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tiến hành xem xét thẩm định đo đạc ngày 23 tháng 02 năm 2024. Số diện tích còn lại là 1.117,6m² nằm ngoài ranh giới thửa đất 20.625,9m².

Từ những vấn đề nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định ông Hà Minh Q cung được tài liệu chứng cứ, chứng minh diện tích đất tranh chấp là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai nằm trong diện tích đất theo Quyết định cấp đất làm vườn rừng số: 22 đối với diện tích đất là 2,5ha do Ủy ban nhân dân huyện Sa Pa cấp ngày 25 tháng 5 năm 1992 mang tên ông Hà Minh Q và phù hợp với những người làm chứng. Nên chấp nhận yêu cầu của ông Hà Minh Q buộc ông Vàng A L, cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch,

4

anh Vàng A P trả lại diện tích đất là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Ông Hà Minh Q rút yêu cầu khởi kiện của ông Hà Minh Q về việc buộc ông Vàng A L phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với ông Hà Minh Q thực hiện quyền sử dụng diện tích đất 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai; Rút yêu cầu của ông Hà Minh Q đối với yêu cầu ông Vàng A L phải trả diện tích đất 1.117,6m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Nên đình chỉ yêu cầu này theo quy định pháp luật.

  1. Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai; Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 217, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hà Minh Q.

Buộc ông Vàng A L, cụ Sùng Thị L, chị Sùng Thị Ch, anh Vàng A S, anh Vàng A S1, anh Vàng A Ch, anh Vàng A P trả lại diện tích đất là 7.449,4m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Diện tích đất có tứ cận phía Bắc giáp đất hộ ông Vàng A D và Sùng A Ch tranh chấp đất với ông Hà Minh Q; Phía Đông giáp đất ông Sùng A L tranh chấp đất với ông Hà Minh Q; Phía Tây giáp đất bà Vàng Thị M tranh chấp đất với hộ ông Hà Minh Q; Phía Nam giáp đất ông Vàng A L đang sử dụng. Diện tích đất được xác định các điểm tọa độ theo sơ đồ đất theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc địa chính thửa đất như sau: 8. X(m) 2470988.05 - Y(m) 407320.66; 9. X(m) 2470995.91 - Y(m) 407317.79; 10. X(m) 2471001.88 - Y(m) 407315.93; 11. X(m) 2471005.20 - Y(m) 407315.42; 12. X(m) 2471006.64 - Y(m) 407318.39; 13. X(m) 2471008.10 - Y(m) 407324.25; 14. X(m) 2471009.75 - Y(m) 407328.97; 15. X(m) 2471011.61- Y(m) 407332.10; 16. X(m) 2471012.83 - Y(m) 407335.53; 17. X(m) 2471015.34 - Y(m) 407339.91; 18. X(m) 2471017.12 - Y(m) 407341.81; 19. X(m) 2471022.58 - Y(m) 407346.06; 20. X(m) 2471032.81 - Y(m) 407348.44; 21. X(m) 2471037.71 - Y(m) 407346.86; 22. X(m) 2471040.95 - Y(m) 407346.47; 23. X(m) 2471044.28 - Y(m) 407343.44; 24. X(m) 2471048.60 - Y(m) 407340.20; 25. X(m) 2471053.48 - Y(m) 407337.28; 26. X(m) 2471057.18 - Y(m) 407337.31; 27. X(m) 2471059.11 - Y(m) 407337.57; 28. X(m) 2471061.70 - Y(m) 407339.46; 29. X(m) 2471065.12 - Y(m) 407342.87; 30. X(m) 2471071.29 - Y(m) 407347.86; 31. X(m) 2471072.62 - Y(m) 407348.90; 32. X(m) 2471076.92 - Y(m) 407354.22; 33. X(m) 2471080.20 - Y(m) 407359.35; 34. X(m) 2471081.07 - Y(m) 407361.45; 35. X(m) 2471082.62 - Y(m) 407362.68; 36. X(m) 2471084.91 - Y(m) 407370.76; 37. X(m) 2471086.35 - Y(m) 407362.68; 38. X(m) 2471087.60 - Y(m) 407380.29; 39. X(m) 2471088.03 - Y(m) 407383.85; 40. X(m) 2471084.89 - Y(m) 407383.89; 41. X(m) 2471079.54 - Y(m) 407384.25; 42. X(m) 2471071.05 - Y(m) 407385.92; 43.

5

X(m) 2471070.15 - Y(m) 407392.35; 44. X(m) 2471070.40 - Y(m) 407400.22; 45. X(m) 2471070.45 - Y(m) 407402.34; 46. X(m) 2471069.84 - Y(m) 407405.30; 47. X(m) 2471069.15 - Y(m) 407415.47; 48. X(m) 2471064.21 - Y(m) 407415.83; 49. X(m) 2471061.81 - Y(m) 407415.36; 50. X(m) 2471052.23 - Y(m) 407415.22; 51. X(m) 2471044.72 - Y(m) 407414.73; 52. X(m) 2471034.12 - Y(m) 407415.42; 53. X(m) 2471017.64 - Y(m) 407417.52; 54. X(m) 2471006.32 - Y(m) 407419.56; 55. X(m) 2471000.00 - Y(m) 407420.61; 56. X(m) 2470996.07 - Y(m) 407422.35; 57. X(m) 2470990.22 - Y(m) 407422.73; 58. X(m) 2470986.70 - Y(m) 407421.77; 59. X(m) 2470983.47 - Y(m) 407420.52; 80. X(m) 2470988.53- Y(m) 407407.08; 79. X(m) 2470980.46-Y(m) 407346.78.

Đình chỉ yêu cầu của ông Hà Minh Q về việc, buộc ông Vàng A L phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc, ông Hà Minh Q thực hiện quyền sử dụng đất đối với diện tích đất là 8.567,1m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

Đình chỉ yêu cầu của ông Hà Minh Q đối với yêu cầu, ông Vàng A L phải trả lại diện tích đất là 1.117,6m²-Địa chỉ tổ 02, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai.

(Kèm theo sơ đồ tọa độ lồng ghép diện tích đất tranh chấp giữa ông Hà Minh Q với ông Vàng A L của Ủy ban nhân dân thị xã Sa Pa và Sơ đồ, vị trí thửa đất của trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Sa Pa).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải hoàn trả phải thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí: Ông Hà Minh Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Hà Minh Q tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001533 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sa Pa.

Ông Vàng A L phải chịu số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Hà Minh Q phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 614.000 đồng (Sáu trăm mười bốn nghìn đồng).

Ông Vàng A L phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 4.086.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi sáu nghìn đồng), nhưng do ông Hà Minh Q đã nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền là 4.700.000 đồng (Bốn triệu bẩy trăm nghìn đồng). Như vậy, ông Vàng A L phải hoàn trả cho ông Hà Minh Q số tiền là 4.086.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, TX;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSTX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Hà

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 17/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA-TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HA MINH Q - VANG A L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger