Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 05 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Phước Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hoàng Điệt;

Ông Nguyễn Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn - Kiểm sát viên.

- Ông Trần Minh Chiến - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024. Phiên tòa trực tuyến được diễn ra tại 02 điểm cầu gồm:

Điểm cầu trung tâm: Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Đường Hùng Vương, ấp Cầu Đồn, Thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham gia: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

Điểm cầu thành phần: Tại Nhà tạm giữ Công an nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Ấp Mỹ Tân, Thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham dự: Bị cáo, cán bộ, chiến sĩ tại Nhà tạm giữ và Kiểm sát viên được phân công hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1996, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hùng C1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1976; Anh, chị, em ruột có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2001; Vợ: Võ Thị Thanh N, con có 01 người, sinh năm 2020.

Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 26 tháng 4 năm 2024 bị Trưởng Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng xử phạt về hành vi “Cố ý gây thương tích” với số tiền 4.000.000 đồng, chưa chấp hành nộp phạt;

Tiền án: 01 tiền án, ngày 25 tháng 01 năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số: 03/2016/HSPT (tổng hợp của 02 bản án sơ thẩm số 17/2015/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2015 và bản án sơ thẩm số 22/2015/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03 tháng 01 năm 2019, chưa thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích.

Bị khởi tố ngày 11 tháng 01 năm 2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 01 tháng 02 năm 2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 2003 (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Ú (tên gọi khác: Q1), sinh năm 1986 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 14/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn Q có nhờ Lê Văn T1 dùng xe mô tô biển kiểm soát: 83M1-008.46, điều khiển chở bị cáo Q đến nhà của anh Đặng Văn Q2 và chị Nguyễn Thùy T tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để lấy chiếc xe mô tô do bị cáo Q để lại sửa tại tiệm sửa xe của vợ chồng chị T làm chủ. Khi đến nhà của chị T thì bị cáo Q xuống xe còn T1 điều khiển xe về hướng Ủy ban nhân dân xã M. Bị cáo Q vào kêu cửa thì chị T đi ra mở cửa cho bị cáo Q vào để lấy xe. Khi bị cáo Q vào trong nhà, bị cáo Q hỏi chị T: “Quý đâu rồi?”, chị T trả lời: “Q2 không có ở nhà, đi xiệt dưới sông”, bị cáo Q hỏi tiếp: “Sửa xe bao nhiêu tiền”, chị T trả lời: “không biết, có gì mai chuyển khoản cho anh Q2 đi”. Lúc này bị cáo Q thấy chị T ở nhà một mình nên nảy sinh ý định hiếp dâm chị T; bị cáo Q giả vờ bị đau bụng và xin đi nhờ nhà vệ sinh thì chị T đồng ý và đi mở cửa sau cho bị cáo Q đi vệ sinh. Trong lúc chị T đi mở cửa thì bị cáo Q dùng cây dao Thái Lan do bị cáo Q mang theo kề dao vào cổ của chị T, đồng thời dùng tay kéo chị T hướng vào phòng ngủ của vợ chồng chị T để thực hiện hành vi hiếp dâm. Lúc này T hỏi bị cáo Q: “mày cần tiền hả gì?", bị cáo Q nói không cần. Bị cáo Q kêu chị T đi đóng cửa trước lại thì T kháng cự, bị cáo Q dùng cây dao nhá vào vùng đầu của T và đe dọa “nếu chống cự sẽ giết”. Chị T tiếp tục kháng cự thì bị cáo Q cầm cây dao đâm 01 nhát vào vùng đùi của chị T nhưng chị T dùng tay chụp lại nên bị thương ở tay phải. Lúc này bị cáo Q đi ra trước để đóng cửa, sau đó quay lại thì thấy chị T cầm cây phuộc xe honda để chống trả, bị cáo Q chạy tới chụp cây phuộc xe và xô đẩy chị T ngã xuống nền nhà. Lúc này bị cáo Q và chị T tiếp tục giằng co, bị cáo Q nắm tóc và dùng dao đang cầm trên tay đâm vào vùng bụng chị T 03 (ba) nhát, 02 (hai) nhát đầu thì không trúng, đến nhát thứ 03 (ba) thì chị T dùng tay trái chụp được cây dao, làm chị T bị đứt tay, đồng thời Q đứng dậy tháo bóng đèn chiếu sáng ở nhà sau, lợi dụng lúc bị cáo Q đang tháo bóng đèn, chị T chạy ra trước nhà và truy hô mọi người giúp đỡ. Thấy vậy bị cáo Q chạy ra trước lộ nhựa ném bỏ cây dao và quay vào nhà lấy xe mô tô biển kiểm soát 67L9-0224 rồi tẩu thoát. Sau đó chị Nguyễn Thị Ú là dì của chị T đến Cơ quan Công an xã M trình báo sự việc.

- Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 370/KLTTCT-TTPYST, ngày 28/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S, Kết luận:

  • + Sẹo phần mềm bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (hai phần trăm).
  • + Sẹo mặt lòng ngón IV tay trái, kích thước nhỏ; cứng khớp bàn ngón IV tay trái gây hạn chế chức năng duỗi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (một phần trăm) và 05% (năm phần trăm).
  • + Sẹo mặt lòng ngón V tay trái, kích thước nhỏ; cứng khớp bàn ngón V tay trái gây hạn chế chức năng duỗi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01 % (một phần trăm) và 03% (ba phần trăm).
  • + Sẹo phẫu thuật xuôi mặt lòng bàn tay trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (hai phần trăm).
  • + Tổn thương vùng đầu không còn di chứng tổn thương. Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với bị hại Nguyễn Thùy T là 13% (mười ba phần trăm), đã áp dụng phương pháp cộng trừ tại Thông tư. Các tổn thương bàn tay phải và bàn tay trái do vật sắc gây nên.

- Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKS-MT ngày 11 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Q từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thùy T với số tiền là 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tổng chiều dài 20cm.

Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại chị Nguyễn Thùy T, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị hại chị Nguyễn Thùy T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường thiệt hại cho chị T số tiền 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng), đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Văn T1 vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của anh T1 không gây cản trở cho việc xét xử, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của anh T1 nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Văn T1.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản thực nghiệm điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

[4] Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 14/7/2023, tại nhà bị hại Nguyễn Thùy T thuộc ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Nguyễn Văn Q lợi dụng bị hại T ở nhà một mình nên nảy sinh ý định hiếp dâm nhưng không thành, trong quá trình giằng co với bị hại, bị cáo Q đã dùng dao Thái Lan là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại T ở bàn tay phải và các ngón IV, V của bàn tay trái.

[5] Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 370/KLTTCT-TTPYST, ngày 28/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S, Kết luận:

  • - Sẹo phần mềm bàn tay phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (hai phần trăm).
  • - Sẹo mặt lòng ngón IV tay trái, kích thước nhỏ; cứng khớp bàn ngón IV tay trái gây hạn chế chức năng duỗi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01 % (một phần trăm) và 05% (năm phần trăm).
  • - Sẹo mặt lòng ngón V tay trái, kích thước nhỏ; cứng khớp bàn ngón V tay trái gây hạn chế chức năng duỗi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01 % (một phần trăm) và 03% (ba phần trăm).
  • - Sẹo phẫu thuật xuôi mặt lòng bàn tay trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (hai phần trăm).
  • - Tổn thương vùng đầu không còn di chứng tổn thương. Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với bị hại Nguyễn Thùy T là 13% (mười ba phần trăm), đã áp dụng phương pháp cộng trừ tại Thông tư. Các tổn thương bàn tay phải và bàn tay trái do vật sắc gây nên.

[6] Bị cáo Nguyễn Văn Q là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo lại có hành vi cố ý gây thương tích cho người khác, hành vi của bị cáo đã trực tiếp đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), với tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là dùng hung khí nguy hiểm.

[7] Như vậy, Cáo trạng số: 11/CT-VKS-MT ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[8] Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  2. Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
  3. Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
  4. Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
  5. Có tổ chức;
  6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  7. Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
  8. Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
  9. Có tính chất côn đồ;
  10. Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

  1. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  2. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
  3. Phạm tội 02 lần trở lên;
  4. Tái phạm nguy hiểm;
  5. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. ..."

[9] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo đã gây ra để bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật.

[10] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Q như sau: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[11] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thùy T số tiền là 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng).

[12] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tổng chiều dài 20cm.

[13] Về án sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm số tiền 2.150.000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).

[14] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức hình phạt ở mức cao nhất của khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.

[15] Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 67L9-0224 của bị cáo Nguyễn Văn Q, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng đã tách riêng để xác minh xử lý sau.

[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thùy T số tiền 43.000.000 đồng (bốn mươi ba triệu đồng). Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bị hại chị Nguyễn Thùy T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn Q còn phải trả lãi cho bị hại chị Nguyễn Thùy T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, tổng chiều dài 20cm.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.150.000 đồng (hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Mỹ Tú;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đoàn Phước Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (tội cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger