Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 17/2024/HS-ST

Ngày 21 - 5 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lã Văn Minh
  2. Bà Nguyễn Thị Bắc

- Thư ký phiên tòa: Bà Sầm Thị Thao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên;

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Phi H, sinh năm 1987 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức S, sinh năm 1959 và bà Lê Thị X, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Lục Thị T, sinh năm 1992 và có 03 con;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định số 11/2021/QĐ- TA ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn Quyết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Phi H trong thời hạn 18 tháng kể từ ngày đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 16 tháng 5 năm 2023, H chấp hành xong.

Nhân thân: Quyết định số 77 ngày 10/8/2021, của Chủ tịch UBND xã B, huyện L áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn (cai nghiện tại gia đình với thời hạn 03 tháng).

Bị can bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người chứng kiến: Ông Vi Văn Â, sinh năm 1983; (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ ngày 23/02/2024, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B3-803.33 (xe H mượn của gia đình chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 ở cùng thôn) từ nhà ra Quốc lộ C thuộc thôn B, xã B, huyện L tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, H gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua ma túy đá và ngựa với số tiền 2.000.000 đồng và được người này đồng ý. H đưa tiền và được người này đưa cho 01 túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa viền mầu đỏ, bên trong có nhiều viên nén mầu hồng đỏ và chất tinh thể mầu trắng. H để túi ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi trên Quốc lộ C vào thị trấn T, huyện S để sử dụng. Khoảng 12 giờ 30 phút, H đi đến tại đoạn đường Q thuộc thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phối hợp cùng Đội cảnh sát giao thông Công an huyện S dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Phi H lấy ma túy từ túi quần bên trái đang mặc vất xuống rãnh thoát nước cạnh Quốc lộ C. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Phi H và niêm phong 01 túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa viền mầu đỏ, bên trong có chứa nhiều viên nén mầu hồng đỏ và chất tinh thể mầu trắng nghi là ma túy Heroine vào phong bì thư ký hiệu “A”. Thu giữ của H 01 điện thoại OPPO A16K, 01 xe mô tô BKS 98B3-803.33 và số tiền 100.000 đồng. Sau đó, Tổ công tác đưa Nguyễn Phi H về trụ Công an huyện S để làm việc (BL số 34 - 41)

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Phi H tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng không thu giữ được gì. (BL số 79-81)

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ (01 túi nilon màu trắng, một cạnh có rãnh khóa nhựa viền mầu đỏ, bên trong có chứa nhiều viên nén mầu đỏ và chất tinh thể mầu trắng). Kết quả:

Bản Kết luận giám định số 439/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

"Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “A”, được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể mầu trắng và 07 (bẩy) viên nén hình tròn, mầu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,337 gam” (BL số 42-46).

* Vật chứng vụ án gồm: 01(một) phong bì ký hiệu “A” bên trong có 01 (một) túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ chứa chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,186 gam sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B; 01 xe mô tô BKS 98B3- 803.33; 01 điện thoại OPPO A16k và số tiền 100.000 đồng. Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Tại bản cáo trạng số 15/CT – VKS ngày 13/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Nguyễn Phi H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy chất ma túy sau giám định, hoàn trả 01 xe mô tô BKS 98B3- 803.33 cho bà Nguyễn Thị H1; hoàn trả 01 điện thoại OPPO A16k và số tiền 100.000 đồng cho Nguyễn Phi H. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án, trong giai đoạn điều tra, truy tố. Hội đồng xét xử thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi của bị cáo Nguyễn Phi H theo cáo trạng truy tố: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi H luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện S lập vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 23/02/2024, phù hợp với Kết luận giám định số 439/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can và các tài liệu khác có trong hồ sơ, phù hợp về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, tại đoạn đường Q thuộc thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Phi H có hành vi tàng trữ trái phép 1,337 gam ma túy, loại Methamphetamine, bị Tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Phi H là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền về các loại chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, thuộc loại tội nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện; hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn, người nghiện ma túy kéo dài sẽ bị suy kiệt sức khỏe nghiêm trọng; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm đến người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thế nhưng bị cáo không chịu cải tạo mà vẫn tiếp tục con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội; chứng tỏ bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính mình. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội cuẩ bị cáo. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H (như H khai) nhưng H không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra không xác minh được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thị H1 cho H mượn xe mô tô BKS 98B3- 803.33 nhưng không biết H sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01( một) phong bì ký hiệu “A” bên trong có 01 (một) túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ chứa chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,186 gam sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B, xét thấy chất ma túy là loại chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần phải tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô BKS 98B3- 803.33 là tài sản của chị Nguyễn Thị H1. Khi cho H mượn xe, chị H1 không biết việc H sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy để sử dụng, do đó cần trả lại cho chị Nguyễn Thị H1;

Đối với 01 điện thoại OPPO A16k và số tiền 100.000 đồng là tài sản của Nguyễn Phi H, bị cáo không sử dụng những tài sản trên để thực hiện hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

[6] Án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Xử phạt: Nguyễn Phi H 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì ký hiệu “A” bên trong có 01 (một) túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ chứa chất ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,186 gam sau giám định được niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh B.

Hoàn trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đỏ đen bạc, biển kiểm soát 98B3-803.33, xe cũ đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị H1.

Hoàn trả 01 điện thoại OPPO A16k, màu đen, cũ đã qua sử dụng đựng trong 01 phong bì thư ký hiệu “ĐT H” và số tiền 100.000 đồng đựng trong 01 phong bì thư ký hiệu “B” dán kín bằng giấy niêm phong của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S cho Nguyễn Phi H nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện SĐ
  • - VKSND tỉnh BG
  • - TAND tỉnh BG
  • - Công an huyện SĐ
  • - Trạm giam CA tỉnh BG
  • - Bị cáo
  • - Người liên quan
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 17/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phi H tàng trữ 1,337g ma túy bị bắt quả tang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger