TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 17/2024/ HS-ST
Ngày: 03/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Duy Quyết;
Ông Hoàng Quốc Trị
-Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST – HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L (tên gọi khác: không), Sinh năm 1993; tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Vũ Thị H; vợ Nguyễn Phương H1 (đã ly hôn), có 02 con; Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 22/12/2023 của C1 P, xử phạt Nguyễn Văn L 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Nguyễn Văn L chưa chấp hành quyết định.
Nhân thân: Tại Bản án số 36 ngày 01/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, xử phạt Nguyễn Văn L 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 35 tháng 24 ngày về tội “Cướp tài sản”. Nguyễn Văn L đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Trọng M; Nơi cư trú: xóm A, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
- Bà Vũ Thị H; Nơi cư trú: thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Anh T (vắng mặt)
- Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:
- Bà Bùi Hồng M1 - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Ông Trịnh Ngọc H2 - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
- Cán bộ chiến sỹ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh N, Cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn L sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022 đến nay. Để có tiền tiêu sài cá nhân, L nảy sinh ý định mua Heroine về bán lại cho các con nghiện. Sáng ngày 18/12/2023, L đi đến khu vực đường đê thuộc địa phận xã G, huyện N mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine, với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, L về nhà ở thôn Đ, xã G, chia gói ma túy vừa mua thành 04 gói nhỏ đều được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng rồi cất giấu trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-375.71 cầm theo 02 gói ma túy đi đến khu vực xã G, huyện G để bán ma túy; tại đây, L gặp và bán cho Bùi Trọng M, sinh năm 1986, trú tại xóm A, xã G 02 gói ma túy với giá 500.000 đồng; M trả Lịch số tiền 480.000 đồng và nợ lại 20.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho M, L điều khiển xe mô tô về nhà. Ngày 21/12/2023, L lấy 01 gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít.
Bùi Trọng M sau khi mua được ma túy, M đi đến khu vực trạm bơm nước xóm A, xã G, sử dụng 01 gói bằng hình thức hít. Đến khoảng 10 giờ ngày 20/12/2023, M đi đến khu vực trạm bơm nước xóm A, xã G, huyện G và sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít; khi M vừa sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an xã G làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện. Lực lượng Công an thu giữ của M 01 mảnh giấy bạc màu vàng có bám dính chất bột màu trắng. Sau đó, lực lượng Công an đưa M cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G để làm việc.
Chiều ngày 22/12/2023, L từ nhà đem theo 01 gói ma túy và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-375.71 đến khu vực xã G, huyện G để bán ma túy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi L đi đến trục đường xóm A, xã G thì gặp Tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi vi phạm của mình, L tự nguyện giao nộp cho lực lượng C 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Lịch khai nhận đó là ma tuý, loại H3, L cất giấu nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy có đặc điểm nêu trên của L. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-375.71 và số tiền 900.000 đồng. Sau đó, lực lượng Công an đưa Nguyễn Văn L cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn L tại thôn Đ, xã G, huyện G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ thu giữ của Nguyễn Văn L, có khối lượng 0,146 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M. Gửi cùng 01 mảnh giấy bạc màu vàng có bám dính chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Trọng M, lấy mẫu giám định ký hiệu B, để xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 71/KL-KTHS-MT ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1406 gam, là ma túy, loại Heroine (H).
Mẫu chất bột màu trắng bám dính trên tờ giấy bạc gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H). Lượng Heroine (H5) bám dính ít, không xác định được khối lượng.
Heroine (H4) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
H1 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,0856 gam, là ma túy, loại Heroine (H) và mảnh giấy bạc màu vàng.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-GV ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Nguyễn Văn L ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 25 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2023. Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ghi số 71/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0856 gam, là ma túy, loại Heroine (H); toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; một mảnh giấy bạc màu vàng ký hiệu B; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
+ Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 480.000 đồng của Nguyễn Văn L do bán ma túy cho M mà có.
+ Đối với số tiền 900.000 đồng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ, phù hợp kết luận giám định; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2023, tại khu vực trục đường xóm A, xã G, huyện G, Nguyễn Văn L đã bán trái phép 02 gói Heroine cho Bùi Trọng M với giá 500.000 đồng. Đến 13 giờ ngày 22/12/2023, cũng tại khu vực trên, Nguyễn Văn L có hành vi cất giấu trái phép 0,1406 gam Heroine với mục đích bán cho người khác để kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Hành vi cất giấu trái phép ma túy nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên đã đi mua ma túy, cất giấu để bán cho người khác, nhằm hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi cố ý thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: bị có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cáo có nhân thân xấu.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo Khoản 5 Điều 251 BLHS thì: "5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.". Bị cáo bán ma túy và cất giấu ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác để thu lời bất chính, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo để sung ngân sách nhà nước.
[5]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì ghi số 71/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0856 gam, là ma túy, loại Heroine (H); toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; một mảnh giấy bạc màu vàng ký hiệu B; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền Nguyễn Văn L bán ma túy cho Bùi Trọng M mà có là 480.000 đồng cần buộc bị cáo nộp lại để truy thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 900.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn L, quá trình điều tra xác định là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
[6]. Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-375.71, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Vũ Thị H (là mẹ đẻ của L). Ngày 18/12/2023 Lịch sử dụng xe mô tô đi mua và bán ma túy, bà H không biết; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho bà H. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nguồn gốc số ma túy, L khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường đê thuộc xã G, huyện N, nên Cơ quan Điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với Bùi Trọng M là người đã mua Heroine của Nguyễn Văn L ngày 18/12/2023 để sử dụng. Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi trọng M2 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Từ những nhận định trên cho thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cần áp dụng đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với quan điểm xử lý của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự ;
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 22/12/ 2023. Phạt bổ sung, phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ghi số 71/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0856 gam, là ma túy, loại Heroine (H); toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; một mảnh giấy bạc màu vàng ký hiệu B; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 480.000 đồng để truy thu sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 900.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Căn cứ theo ủy nhiệm chi ngày 11/4/2024. Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn ngày 19/4/2024).
3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 03/5/2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 17/2024/ HS-ST ngày 03/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 17/2024/ HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - MBTPCMT
